Trả lời:

1. Khái niệm nghiên cứu khoa học biển ?

Hoạt động nghiên cứu khoa học biển luôn đóng vai trò quan trọng, cung cấp cho quốc gia ven biển các luận cứ khoa học về điều kiện tự nhiên, môi trường, tài nguyên biển cùng các quy luật, quy trình biển và mức độ biển đổi của các yểu tố nói trên để phục vụ việc hoạch định chính sách, chiến lược cũng như quy hoạch khai thác, sử dụng biển. Bên cạnh đó, nghiên cứu khoa học biển còn góp phần xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh lương thực, bảo tồn môi trường và tài nguyên biển phục vụ cuộc sống và sự phát triển kinh tế của con người. Vai trò của nghiên cứu khoa học biển được Đại hội đồng Liên hợp quốc nhẩn mạnh và coi đó là một trong những cơ sở quan trọng để quản lý, khai thác, sử dụng biển bền vững, là nội dung cần lưu ý trong quá trình xây dựng luật biển, đảm bảo chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia trên biển.

Công ước luật biển năm 1982 dành riêng Phần XIII để quy định về nghiên cứu khoa học biển; tuy nhiên, không đưa ra định nghĩa nghiên cứu khoa học biển. Tại Hội nghị Luật biển lần thứ n vào năm 1960, Canada từng đưa ra đề xuất về khái niệm nghiên cứu khoa học biển, bao gồm các hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, khảo sát, nghiên cứu cơ bản hoặc thực nghiệm, nhằm phát hiện, khám phá những tri thức mới về biển, kể cả về tài nguyên sinh vật và phi sinh vật ở biển.1

Khái niệm nghiên cứu khoa học biển tiếp tục được thảo luận tại Hội nghị Luật biển lần thứ III. Theo quan điểm của Bulgaria, Ba Lan, Ucraina và Liên Xô (cũ), nghiên cứu khoa học biển bao gồm các hoạt nghiên cứu cơ bản, ứng dụng hay các hoạt động thực nghiệm của quốc gia, cá nhân, tổ chức của quốc gia đó cũng như các tổ chức quốc tế, không nhằm mục đích khai thác tài nguyên, được thực hiện để khám phá những tri thức về bản chất và quá trình vận động diễn ra tại các vùng biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Hoạt động này sẽ góp phần tạo dựng cơ sở dữ liệu giúp các quốc gia phát triển hàng hải và sử dụng biển vào mục đích hòa bình (Với định nghĩa trên, nghiên cứu khoa học biển được tiêp cận dưới góc độ quyên tiên hành nghiên cứu tại các vùng biển nằm ngoài phạm vi quyền tài phán của quốc gia ven biển, không nhằm mục đích thăm dò và khai thác tài nguyên).

Khác với cách tiếp cận trên, khái niệm nghiên cứu khoa học biển dưới góc độ quyền tiến hành nghiên cứu tại các vùng biển nằm ngoài phạm vi quyền tài phán của quốc gia ven biển, Trinidad and Tobago cho rằng nghiên cứu khoa học biển bao gồm bất kì hoạt động tìm hiểu hay điều tra môi trường biển và các hoạt động liên quan. Vì vậy, bản thân hoạt động nghiên cứu khoa học biển loại trừ sự phân biệt giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu phục vụ mục tiêu thương mại hay quân sự.

Bên cạnh đó, theo đề xuất của một số quốc gia, nghiên cứu khoa học biển là “hoạt động tìm kiếm hoặc thực nghiệm ở môi trường biển vì mục đích hòa bình và nhằm khám phá, thúc đẩy tri thức của nhân loại”? một số quốc gia khác đưa ra khái niệm tương tự, theo đó nghiên cứu khoa học biển là “hoạt động tìm kiếm và thực nghiệm, được thực hiện ở biển nhằm phát hiện, khám phá những tri thức của nhân loại về biển"?

Trong những phiên thảo luận sau đỏ, nhiều quốc gia cổ gắng xây dựng khái niệm nghiên cứu khoa học biển theo hướng trên. Tuy nhiên, dường như các quôc gia vân không thể thống nhất trong cách tiếp cận: nghiên cứu khoa học biển được hiểu là nghiên cứu cơ bản nhằm tìm hiểu, khám phá tri thức của nhân loại về biển hay bao gồm cả hoạt động nghiên cứu ứng dụng nhằm mục tiêu thương mại, khai thác tài nguyên. Vì vậy, khái niệm nghiên cứu khoa học biển không được đưa vào dự thảo cuối cùng và không được quy định trong Công ước luật biển năm 1982.

Hiện nay, vẫn còn tồn tại các quan điểm khác nhau về nghiên cứu khoa học biển. Một số nhà nghiên cứu tiếp cận ở góc độ nghiên cứu cơ bản1, trong khi đó một số khác cho rằng nghiên cứu khoa học biển bao gồm cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Trong chương này, khái niệm nghiên cứu khoa học biển được tiếp cận theo cách thứ hai, theo đó nghiên cứu khoa học biển bao gồm hoạt động tìm hiểu, tiến hành thực nghiệm ở môi trường biển, vì mục đích hòa bình và nhằm khám phá, thúc đẩy tri thức của nhân loại về biển hoặc có ảnh hưởng trực tiếp và nhằm mục tiêu thương mại, phục vụ hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên (Dù không đưa ra định nghĩa, Công ước luật biển vẫn có sự phân biệt giữa nghiên cứu khoa học biển với một số khái niệm liên quan, như hoạt động thăm dò tài nguyên và khảo sát thủy văn. Hoạt động thăm dò tài nguyên được quy định tại Điều 56, hoạt động khảo sát thủy vãn được đề cập tại các Điều 19, Điều 21, Điều 40; trong khi đó nghiên cứu khoa học biển được quy định tại Phần XIII.).

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

2. Quy định chung về nghiên cứu khoa học biển ?

Công ước luật biển năm 1982 quy định một khuôn khổ pháp lý, cho phép các quốc gia, tổ chức quốc tế thực hiện nghiên cứu khoa học biển, với điều kiện tôn trọng quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khác. Với 27 điều, từ Điều 238 đến Điều 265, Công ước luật biển năm 1982 quy định tương đối cụ thể về nghiên cứu khoa học biển và là một trong những điều ước quốc tế có quy định toàn diện nhất về vấn đề này (Bên cạnh Công ước luật biển năm 1982, nghiên cứu khoa học biển được đề cập ở mức độ khác nhau trong một sô văn kiện pháp lý quôc tế như 04 Công ước Giơnevơ năm 1958, Công ước về săn bắt cá voi năm 1946, Công ước về ngăn ngừa ô nhiêm biển do nhận chìm chất thải và những vật liệu khác năm 1972, Công ước vê bào vệ cá ngừ vây xanh phía nam năm-1993 và Hiệp ước về Nam cực năm 1959).

Theo quy định tại Điều 240 của Công ước luật biển năm 1982, việc thực hiện nghiên cứu khoa học biển cần tuân thủ những nguyên tắc sau:

- Nghiên cứu khoa học biển nhằm mục đích hòa bình: điều này phù hợp với tinh thần chung của Công ước luật biển năm 1982, được quy định tại Lời nói đầu và nhiều điều khoản khác như Điều 88, Điều 143 và Điều 301.

- Hoạt động nghiên cứu được thực hiện với những phương pháp và biện pháp phù hợp.

- Không cản trở các hoạt động khác, sử dụng biển phù hợp với quy định của Công ước luật biển năm 1982 và điều này cần được tuân thủ trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu khoa học biển.

- Hoạt động nghiên cứu khoa học biển được tiến hành phù hợp với các quy định liên quan, bao gồm cả quy định về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển.

Việc thực hiện nghiên cứu khoa học biển không là cơ sở pháp lý cho bất kì yêu sách nào đối với môi trường biển cũng như tài nguyên biển. Quy định này bổ sung và góp phần khẳng định nguyên tắc sử dụng chung, không thực hiện chiếm hữu đối với biển quốc tế và Vùng.

Công ước luật biển năm 1982 công nhận quyền tiến hành nghiên cứu khoa học biển của tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển, cũng như các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, với điều kiện tôn trọng các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khác như đã được quy định trong Công ước (Điều 238). Như vậy, nghiên cứu khoa học biển không phải là quyền tự do tuyệt đối; do đó, việc thực hiện nghiên cứu ở các vùng biển khác nhau, với những điều kiện cụ thể cần được cân nhắc trong tương quan quyền của quốc gia ven biển và các quốc gia, tổ chức quốc tế khác (Xem các Điều 89, Điều 90 và Điều 137 và Công ước luật biển năm 1982không có quy định cụ thể, giải thích thuật ngữ “Tổ chức quốc tế có thẩm quyền”; tuy nhiên, có thể hiểu đây là những tổ chức quốc tế liên chính phù có chức năng thực hiện, phối hợp, thúc đây hoặc phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học biển. Xem Điều 2 Phụ lục VIII của Công ước luật biển năm 1982).

Công ước luật biển năm 1982 đồng thời quy định các quốc gia và tổ chức quốc tế có thẩm quyền phải khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai và thực hiện nghiên cứu khoa học biển theo đúng Công ước luật biển năm 1982 nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học biển (Điều 239). Các quốc gia có nghĩa vụ thiết lập những tiêu chuẩn, hướng dẫn chung về nghiên cứu khoa học biển, đồng thời có hệ thống các quy định nhằm khuyến khích hoạt động trên tại những vùng biển nằm ngoài phạm vi chủ quyền quốc gia (Điều 251, Điều 255).

>> Xem thêm:  Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân định biển của các quốc gia ?

3. Nghiên cứu khoa học biển tại các vùng biển thuộc chủ quyển quốc gia

3.1 Quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển

Theo quy định của Công ước luật biển năm 1982, quốc gia ven biển có quyền xác lập vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán, bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (Các quốc gia quần đảo có quy chế tương đối đặc thù, theo đó có thề xác lập vùng nước quần đảo thuộc chủ quyền quốc gia (Điều 47, Điều 49 Công ước luật biển năm 1982)).

Tại nội thủy và lãnh hải, trên cơ sở thực hiện chủ quyền, quốc gia ven biển có quyền quy định việc tiến hành nghiên cứu khoa học biển; hoạt động này chỉ được thực hiện với sự thỏa thuận rõ ràng của quốc gia ven biển và trong những điều kiện do quốc gia ven biển ấn định. Thẩm quyền của quốc gia ven biển mang tính riêng biệt, loại trừ quyền của các quốc gia khác (Điều 245 Công ước luật biển năm 1982).

Trong các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán, quốc gia ven biển có quyền quy định, cho phép và tiến hành hoạt động nghiên cứu khoa học biển. Tuy nhiên, để thúc đẩy nghiên cứu khoa học biển, Công ước luật biển năm 1982 yêu cầu các quốc gia ven biển, trong điều kiện bình thường, đồng ý cho thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học biển phù họp với quy định của Công ước luật biển năm 1982 và vì mục đích hòa bình, tăng cường kiến thức về môi trường biển, phục vụ lợi ích của nhân loại. Để thực hiện yêu cầu trên, quốc gia ven biển cần thông qua các quy tắc và thủ tục, đảm bảo cấp phép trong thời hạn hợp lý và sẽ không từ chối một cách phi lý (Điều 246 khoản 1-3).

Trong một số trường hợp, quốc gia ven biển có thể tùy ý không cho phép thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học biển tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, bao gồm những trường hợp sau:

Thứ nhất, quốc gia ven biển có quyền không cấp phép các dự án nghiên cứu khoa học biển có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thăm dò và khai thác nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật. Đối với những dự án này, kết quả nghiên cứu thường có giá trị sử dụng nhằm mục đích thương mại.

Thứ hai, quốc gia ven biển có quyền không cấp phép hoạt động nghiên cứu khoa học biển có dự kiến việc khoản ở thềm lục địa, sử dụng chấtmổ hay đưa chất độc hại vào môi trường biển. Dự kiến khoản tại thềm lục địa được xác định là có tác động trực tiếp đến hoạt động thăm dò tài nguyên. Bên cạnh đó, việc khoản, sử dụng chất nổ và đưa chất độc hại vào môi trường biển đều sẽ dẫn đến hệ quả gây ô nhiễm môi trường biển.

Thứ ba, quốc gia ven biển có quyền không cho phép thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học biển có dự kiến việc xây dựng, khai thác và sử dụng các đảo nhân tạo, công trình và thiết bị nhân tạo đã nêu tại Điều 60 và Điều 80 của Công ước luật biển năm 1982.

Thứ tư, quốc gia ven biển có quyền từ chối hoạt động nghiên cứu khoa học biển thực hiện bởi các quốc gia và tổ chức quốc tế có thẩm quyền nêu tại Điều 248 Công ước luật biển năm 1982 nếu những chủ thể trên cung cấp thông tin không chính xác liên quan đến mục tiêu và nội dung hoạt động nghiên cứu. Bên cạnh đó, các quốc gia và tổ chức quốc tế không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong các dự án nghiên cứu có thể bị từ chối khi thực hiện dự án nghiên cứu khoa học tiếp theo (Điều 246 khoản 5).

>> Xem thêm:  Eo biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý eo biển quốc tế

Tuy nhiên, những trường hợp trên không áp dụng đối với hoạt động nghiên cứu khoa học biển thực hiện tại phần thềm lục địa nằm ngoài ranh giới 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Tại phần thềm lục địa này, quốc gia ven biển có thể xác lập những khu vực cụ thể và có quyền tùy ý quyết định hoạt động nghiên cứu khoa học biển trong khu vực này (Điều 246 khoản 6).

3.2 Quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khác

Các quốc gia và tổ chức quốc tế khi thực hiện nghiên cứu khoa học trong vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển cần được sự đồng ý của quốc gia này.

Hồ sơ xin cấp phép nghiên cứu khoa học biển bao gồm những thông tin chủ yếu liên quan đến: tính chất và mục tiêu của dự án; phương pháp và phương tiện sử dụng nghiên cứu; khu vực nghiên cứu; thời gian đến và đi của tàu nghiên cứu; tổ chức bảo trợ nghiên cứu; mức độ tham gia của quốc gia ven biển vào dự án nghiên cứu (Điều 248 Công ước luật biển năm 1982).

Hồ sơ xin cấp phép nghiên cứu khoa học biển cần gửi cho quốc gia ven biển tối thiểu sáu tháng trước khi tiến hành nghiên cứu. Trong thời hạn bốn tháng, quốc gia ven biển trả lời về việc đồng ý hay từ chối hay yêu cầu cung cấp thêm thông tin. Sau thời hạn trên, nếu quốc gia ven biển không trả lời, điều đó được hiểu là chấp nhận yêu cầu nghiên cứu khoa học biển. Trong trường hợp này, quốc gia hoặc tổ chức quốc tế xin cấp phép nghiên cứu khoa học biển có thể tiến hành hoạt động nghiên cứu sau sáu tháng kể từ ngày nộp hồ sơ.

Trong quá trình triển khai hoạt động, quốc gia, tổ chức quốc tế có nghĩa vụ đáp ứng những điều kiện sau: đảm bảo quyền của quốc gia ven biển trong việc tham gia vào dự án nghiên cứu, bao gồm cả việc cử người lên tàu hoặc thiết bị nghiên cứu; khi hoạt động nghiên cứu kết thúc, cung cấp theo yêu cầu của quốc gia ven biển kết luận và kết quả nghiên cứu; chấp nhận cho quốc gia ven biển, theo yêu cầu của quốc gia này, tiếp cận các dữ liệu thu được trong khuôn khổ dự án; cung cấp cho quốc gia ven biển, theo yêu cầu của quốc gia này, một bản đánh giá về những dự liệu đó; đảm bảo các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng trên bình diện quốc tế; thông báo cho quốc gia ven biển những thay đổi quan trọng trong quá trình thực hiện dự án nghiên cứu khoa học biển; tháo dỡ các thiết bị nghiên cứu sau khi kết thúc hoạt động, trừ khi có thỏa thuận khác với quốc gia ven biển (Điều 249 Công ước luật biển năm 1982).

Những điều kiện trên có ý nghĩa quan trọng trong đảm bảo cân bằng về quyền và lợi ích giữa quốc gia ven biển với cộng đồng quốc tế về nghiên cứu khoa học biển; đồng thời góp phần thúc đẩy hoạt động hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học biển khi đảm bảo sự tham gia của quốc gia ven biển và việc công khai kết quả nghiên cứu trên bình diện quốc tế.

Ngoài ra, Công ước luật biển năm 1982 còn quy định cụ thể trình tự đồng ý, các trường hợp quốc gia ven biển được quyền từ chối cho phép nghỉên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa; quyền và nghĩa vụ của quốc gia, tổ chức quốc tế trong khi tiến hành nghiên cứu khoa học và sau khi kết thúc hoạt động nghiên cứu khoa học biển; trách nhiệm bảo vệ môi trường biển khi tiến hành hoạt động nghiên cứu khoa học biển.

4. Nghiên cứu khoa học biển tại các vùng biển nằm ngoài phạm vi chủ quyền quốc gia

>> Xem thêm:  Quần đảo là gì ? Quốc gia quần đảo là gì ? Vùng nước quần đảo được hiểu thế nào ?

Theo quy định tại Điều 87 của Công ước luật biển năm 1982, tất cả các quốc gia được hưởng quyền tự do biển cả, bao gồm quyền tự do nghiên cứu khoa học biển. Quyền này được cụ thể hóa tại các Điều 256 và Điều 257, theo đó các quốc gia, không phụ thuộc vào vị trí địa lý và các tổ chức quốc tế có thẩm quyền có quyền tiến hành nghiên cứu khoa học biển tại vùng nước thuộc quy chế của biển quốc tế, tại phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài thềm lục địa của quốc gia ven biển (thuộc quy chế của Vùng).

Tại vùng biển quốc tế, Công ước luật biển năm 1982 ghi nhận quyền tự do của các quốc gia và tổ chức quốc tế có thẩm quyền trong nghiên cứu khoa học biển. Tuy nhiên, đây không phải là quyền tự do tuyệt đối mà được thực hiện phù hợp với những điều khoản khác của Công ước luật biển năm 1982, theo đó việc sử dụng biển nói chung, nghiên cứu khoa học biển nói riêng phải vì mục đích hòa bình, không cản trở các hoạt động hợp pháp trên biển, đặc biệt là các tuyến đường hàng hải quốc tế (Điều 87 khoản 2; Điều 88, các điều 238 - 241; Điều 261 Công ước luật biển năm 1982). Bên cạnh đó, khi tiến hành nghiên cứu khoa học biển, quốc gia, tổ chức quốc tế có nghĩa vụ tuân thủ các quy định khác của Luật quốc tế (như Điều VIII của Công ước về đánh bắt cá voi năm 1946 quy định về việc hạn chế đánh bắt cá voi phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học).

Tại Vùng, quyền tự do nghiên cứu khoa học biển được thực hiện phù hợp với quy định của Phần XI của Công ước luật biển năm 1982 (Điều 256). Do vậy, nghiên cứu khoa học biển chỉ được tiến hành vì mục đích hòa bình và vì lợi ích chung của nhân loại (Điều 143 khoản 1). Khi thực hiện hoạt động này, các quốc gia cần thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua việc tham gia các chương trình hợp tác và khuyến khích hợp tác về nghiên cứu khoa học biển; đảm bảo rằng các chương trình được thực hiện thông qua Cơ quan quyền lực đáy đại dương hoặc các tổ chức quốc tế phù hợp, vì lợi ích của quốc gia đang phát triển và kém phát triển về mặt kĩ thuật; công khai kết quả nghiên cứu và những phân tích khi kết quả này có thể sử dụng được (Điều 143 khoản 3).

Với tính chất là một trong những quyền của tự do biển cả, quyền tài phán đối với hoạt động nghiên cứu khoa học tại Vùng thuộc về quốc gia tàu treo cờ theo nguyên tắc “Luật cờ tàu”. Tuy nhiên, điều này làm phát sinh một vấn đề khác: hoạt động nghiên cứu khoa học biển có đồng thời chịu sự điều chỉnh của Cơ quan quyền lực đáy đại dương? Điều 143 khoản 2 của Công ước luật biển năm 1982 chỉ quy định Cơ quan quyền lực có thể thực hiện nghiên cứu khoa học tại Vùng và ký các hợp đồng nhằm mục đích này. Ngoài ra, Cơ quan quyền lực tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích việc nghiên cứu khoa học; phối hợp, phổ biển các kết quả nghiên cứu khi sẵn sàng đưa vào sử dụng. Do Công ước luật biển năm 1982 không có quy định cụ thể, nhiều ý kiến cho rằng: hoạt động nghiên cứu khoa học có liên quan trực tiếp đến thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên tại Vùng sẽ chịu sự điều chỉnh của Cơ quan quyền lực (nghiên cứu khoa học ứng dụng); trong khi đó nghiên cứu khoa học nhằm khám phá, thúc đẩy tri thức của nhân loại về biển sẽ thực hiện theo nguyên tắc tự do biển cả (nghiên cứu khoa học cơ bản).

Luật Minh KHuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Vùng nước quần đảo là gì ? Chế độ pháp lý vùng nước quần đảo