1. NLĐ thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân có được mua nhà ở xã hội không?
Theo quy định tại Điều 51 Luật Nhà ở năm 2014 quy định về điều kiện hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội, cụ thể nếu các đối tượng như người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp đáp ứng được các điều kiện dưới đây thì mới đủ cơ sở để được mua nhà ở xã hội, cụ thể:
- Phải thuộc diện không phả nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định về thuế thu nhập cá nhân;
- Trường hợp là hộ nghèo, cận nghèo thì phải thuộc diện nghèo, cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
Như vậy theo quy định tại Luật Nhà ở thì người lao động thuộc đối tượng đóng thuế thu nhập cá nhân thường xuyên thì không đủ điều kiện mua nhà ở xã hội. Tuy nhiên có một vài thông tin cần lưu ý:
Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XV, theo trình bày tờ trình về dự án Luật Nhà ở (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Xây dựng cho biết, dự thảo Luật Nhà ở đã sửa đổi, bổ sung quy định về đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội, hình thực thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội; điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội, nguyên tắc thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội; hình thức phát triển nhà ở xã hội; loại nhà và tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội; đất để xây dựng nhà ở xã hội... Ngoài ra còn bổ sung một số quy định như: nguồn vốn của nhà nước để phục vụ cho phát triển nhà ở; hình thức huy động vốn để phát triển nhà ở.
Trong dự thảo có các đối tượng được đề xuất hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội bao gồm: người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ; hộ gia đình nghèo và cận nghèo; người thu nhập thấp tại khu vực đô thị; công nhân, người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp và cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức....
Một vài ý kiến bất đồng trong dự hội thảo cho rằng, việc quy định người lao động thuộc đối tượng đóng thuế thu nhập cá nhân không được mua nhà ở xã hội là chưa phù hợp bởi lẽ hiện nay mức thu nhập chịu thuế với người lao động là 11 triệu đồng/ tháng chưa áp dụng mức giảm trừ gia cảnh. Vậy với mức thu nhập như thế sau khi đã trừ thuế thu nhập họ còn lại bao nhiêu để lo trang trải cho gia đình và những thứ khác nên tại phiên hội thảo có ý kiến cho rằng cần quy định cụ thể mức thuế thu nhập cần phải đóng là bao nhiêu cũng có ý kiến cho rằng cân cân nhắc mở rộng phạm vi thu nhập để mở rộng đối tượng người lao động thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân nhằm có chính sách cho công dân, người lao động có nhà ở để đảm bảo cuộc sống tại các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Pháp luật quy định như thế nào về nguyên tắc mua nhà ở xã hội?
Căn cứ tại Điều 62 Luật Nhà ở năm 2014, quy định một vài nguyên tắc cho thuê mua nhà ở cụ thể như sau:
- Đầu tiên việc mua nhà ở phải đảm bảo đúng quy định các đối tượng tại khoản 1,4,5,6,7,8,10 tại Điều 49 luật này được hỗ trợ giải quyết cho thuê, cho mua, bán nhà ở còn lại đối tượng tại khoản 9 Điều 49 cụ thể là học sinh, sinh viên các học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề; học sinh trường dân tộc nội trú công lập được sử dụng nhà ở trong thời gian học tập thì chỉ được thuê nhà ở xã hội;
- Bảo đảm về thời hạn của hợp đồng thuê nhà ở xã hội, theo đó thời gian của hợp đồng thuê nhà ở tối thiểu là 05 năm, thời hạn thành toán tiền thuê mua nhà ở xã hội tối thiểu là 5 năm kể từ ngày ký hợp đồng thuê mua nhà ở;
- Cần đảm bảo nguyên tắc bên thuê, bên thuê mua nhà ở xã hội không được bán hay cho thuê lại hoặc cho mượn nhà ở trong thời gian thuê, thuê mua; nếu bên thuê, thuê mua không còn nhu cầu thuê, thuê mua nhà ở thì chấm dứt hợp đồng và phải trả lại nhà ở này;
- Trong thời hạn tối thiểu 5 năm kể từ thời điểm tiền thuê mua, tiền mua nhà ở đã được thanh toán thì bên thuê mua, bên mua không được bán lại còn trong thời hạn 05 năm kể từ ngày bên mua, bên thuê mua đã thanh toán hết tiền mua, thuê mua nhưng không muốn ở hoặc vì lý do mà có nhu cầu bán nhà ở thì họ chỉ ưu tiên được bán cho đơn vị quản lý nhà ở xã hội hoặc bán lại cho những đối tượng đủ điều kiện mua nhà ở xã hội, nếu đơn vị này không mua với giá bán tối đa bằng giá bán nhà ở xã hội cùng loại tại cùng địa điểm, thời điểm bán và không phải nộp thuế thu nhập cá nhân;
- Sau thời hạn 5 năm kể từ ngày đã thanh toán hết tiền mua, tiền thuê nhà ở và đã được cấp Giấy chứng nhận thì bên mua, bên thuê nhà ở xã hội được bán lại nhà ở này theo cơ chế tị trường cho các đối tượng khác nhưng phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ và phải nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật thuế. Trường hợp bán cho đối tượng khác mà đối tượng đó thuộc diện được mua nhà ở xã hội theo quy định thi chỉ được bán với giá tối đa bằng giá bán nhà ở xã hội cùng loại tại cùng địa điểm, thời điểm bản và không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Đối tượng thuộc diện được tái định cư là hộ gia đình, cá nhân mà thuê, mua, mua nhà ở xã hội thì được bán lại nhà ở này theo cơ chế thị trường cho các đối tượng có nhu cầu sau khi đã thanh toán hết tiền mua, tiền thuê mua nhà ở và được cấp Giấy chứng nhận nhưng phải nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước theo quy định của Chính phủ và phải nộp thuế thu nhập theo quy định của phát luật thuế.
- Lưu ý, Việc thuê, mua nhà cần phải có hợp đồng hợp đồng cho thuế, thuê mua, bán nhà ở xã hội sẽ không có giá trị pháp lý và hệ quả là bên thuê, mua, bán phải bàn giao lại nhà ở cho đơn vị quản lý nhà ở xã hội khi hợp đồng mua bán không đúng theo quy định, nếu như những đối tượng trên không bàn giao lại thì UBND cấp tỉnh nơi có nhà ở sẽ tiến hành cưỡng chế để thu hồi lại nhà ở này.
Nhà ở do cá nhân, tổ chức đầu tư xây dựng thì chủ đầu tư phải ký kết hợp đồng với bên thuê; nếu bên thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cần phải ký hợp đồng thuê mua với cơ quan quản lý nhà ở.
3. Bên thuê, mua nhà ở xã hội chết thì giải quyết như thế nào?
Theo quy định tai Điều 135 Luật Nhà ở 2014 thì bên thuê, mua khi mua nhà ở thì cần thoả thuận được ghi trong hợp đồng thuê mua nhà ở. Trường hợp chấm dứt hợp đồng thuê mua nhà ở mà bên thuê mua đã nhận bàn giao nhà ở thì bên thuê mua phải trả lại nhà ở này cho bên thuê mua; bên thuê mua được hoàn lại số tiền đã nộp lần đầu.
Vậy trường hợp thuê, mua nhà ở xã hội chết thì pháp luật quy định giải quyết như sau:
- Trường hợp người chết có người thừa kế hợp pháp đang cùng sinh sống tại nhà ở đó thì người thừa kế hợp pháp đó được tiếp tục thuê mua nhà ở, trừ trường hợp người thừa kế hợp pháp tự nguyện trả lại nhà ở thuê mua;
- Trong trường hợp người chết đã thanh toán được 2/3 thời hạn thuê mua và có người thừa kế nhưng họ không cùng sinh sống trong căn nhà đó thì người thừa kế hợp pháp được thanh toán hết số tiền tương ứng với một phần ba thời hạn thuê mua còn lại sau đó sẽ được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở đó bưởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Trường hợp người thừa kế hợp pháp không cùng sinh sống trong căn nhà và người thuê mua cũng chưa thanh toán 2/3 số tiền thuê mua hoặc cùng sinh sống nhưng họ không tiếp tục ở thì bên cho thuê mua được quyền thu hồi lại nhà ở và trả lại số tiền mà bên thuê mua nhà ở đã nộp lần đầu cho người thừa kế hợp pháp và có tính lãi suất theo quy định về lãi suất không kỳ hạn liên ngân hàng tại thời điểm hoàn trả;
- Nhà nước và bên cho thuê mua được thu hồi nhà ở và sở hữu số tiền mà bên thuê mua đã chết nộp lần đầu sau đó nhà nước và bên cho thuê mua đươc tiếp tục ký hợp đồng thuê, thuê mua với đối tượng đủ điều kiện được thuê, thuê nhà ở theo quy định.
Như vậy khi người thuê, mua nhà ở xã hội chế thì pháp luật quy định các cách giải quyết đối với từng trường hợp cụ thể nêu ở trên.
Nếu còn vướng mắc liên quan đến bài viết, khách hàng hãy gọi: 1900.6162 để được tư vấn, hỗ trợ qua tổng đài tư vấn pháp luật nhà ở trực tuyến.
Bài viết liên quan:
- Thuê mua là gì? Quy định về thuê mua nhà ở xã hội
- Ai được mua nhà ở xã hội? Điều kiện mua nhà ở xã hội là gì?
- Hồ sơ và thủ tục mua nhà ở xã hội thực hiện như thế nào?