1. Một số thông tin cần biết về khái niệm oan sai
Oan” không phải là một khái niệm phức tạp. Nghĩa thông thường của từ này là bị quy tội không đúng, phải chịu sự trừng phạt một cách sai trái, vô lý.
- Công dân bị khởi tố, tạm giam, tạm giữ nhưng sau đó cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, trả tự do vì hết thời hạn tạm giam, tạm giữ mà không chứng minh được người đó đã thực hiện hành vi phạm tội, hoặc người đó chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc chứng minh được hành vi của người đó không cấu thành tội phạm
- Công dân đã bị truy tố ra Toà án để xét xử nhưng Toà án tuyên bố bị cáo không có tội hoặc bản án kết tội của Toà án cấp dưới bị Toà án cấp trên huỷ, tuyên bị cáo không có tội.
- Công dân bị truy tố, xét xử, kết án theo một tội danh nặng hơn so với tội danh trên thực tế đã phạm và bản án đã được Toà án cấp trên sửa theo hướng nhẹ hơn.
2. Nguyên nhân dẫn đến oan sai và hậu quả của các bản án oan sai?
2.1. Nguyên nhân chủ quan
- Do một bộ phận người tiến hành tố tụng thực hiện không đúng, không đầy đủ, không chính xác các quy định pháp luật tố tụng và quy chế nghiệp vụ của ngành. Việc thu thập, đánh giá chứng cứ chưa thật đầy đủ, khách quan, toàn diện; chưa bảo đảm đúng nguyên tắc “suy đoán vô tội”, từ đó có thái độ đối xử với người bị bắt, bị can, bị cáo như là người có tội; có trường hợp bảo thủ, định kiến trong giải thích và áp dụng pháp luật theo hướng bất lợi cho người bị tình nghi phạm tội.
- Hồ sơ vụ án hình sự còn có xu hướng nặng về buộc tội; tại phiên tòa, kiểm sát viên còn tập trung vào bảo vệ cáo trạng; quá trình tranh tụng tại phiên tòa còn hình thức, một bộ phận thẩm phán, kiểm sát viên còn coi trọng “án tại hồ sơ”, từ đó chưa chủ động tranh luận, tích cực làm rõ các tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa.
- Việc phối hợp liên ngành trong một số trường hợp chưa đúng chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, thiếu sự chế ước, kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan tư pháp. Một số viện kiểm sát chưa làm tốt nhiệm vụ công tố gắn với hoạt động điều tra, thực hiện không đầy đủ các thẩm quyền theo luật định; có nơi còn phối hợp nhất trí một chiều với cơ quan điều tra trong nhận định, đánh giá tính chất vụ án, ít nêu yêu cầu khởi tố, yêu cầu điều tra. Trong một số trường hợp, sự chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của các cơ quan tố tụng trung ương chưa kịp thời hoặc ý kiến khác nhau... gây khó khăn, lúng túng cho địa phương.
- Một số địa phương còn xảy ra tình trạng thiếu điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán. Việc phân bổ kiểm sát viên, thẩm phán ở nhiều địa phương chưa thật sự phù hợp gây lãng phí nguồn lực. Đội ngũ luật sư còn thiếu, tính chuyên nghiệp chưa cao. Cơ sở để bào chữa cho bị can, bị cáo chủ yếu vẫn là hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra. Chất lượng tranh tụng của luật sư bào chữa chỉ định thấp, có luật sư vi phạm pháp luật, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
2.2. Nguyên nhân khách quan
- Quy định pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự có những vấn đề còn bất cập so với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm chưa được sửa đổi bổ sung kịp thời, công tác hướng dẫn, giải thích luật thực hiện chưa thường xuyên và đồng bộ dẫn đến việc áp dụng pháp luật thiếu thống nhất.
- Tính chất thủ đoạn tội phạm ngày một tinh vi, nhiều bị can tham gia, xảy ra trên nhiều địa bàn gây khó khăn cho việc thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm. Một số đối tượng lợi dụng mối quan hệ tranh chấp dân sự để thực hiện việc gian dối, chiếm đoạt tài sản, việc định giá tài sản, giám định tư pháp chưa đồng bộ, thiếu kịp thời.
- Lực lượng Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán còn thiếu, có một số còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn, cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động, trang thiết bị phục vụ công tác còn thiếu chưa đáp ứng được yêu cầu.
- Ngoài ra, bệnh thành tích cũng như áp lực “chỉ tiêu” số vụ án được khởi tố, truy tố và xét xử của các cơ quan tố tụng cũng một phần dẫn đến oan sai. Còn tồn tại tình trạng bức cung, nhục hình, ép cung, mớm cung. Chức năng kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhiều khi không được thực hiện một cách đúng pháp luật, chủ yếu dựa vào nội dung của Bản kết luận điều tra từ đó ban hành bản cáo trạng một cách rập khuân, máy móc. Trong khi đó, hệ thống pháp luật và việc thực thi pháp luật ở nước ta vẫn có những bất cập, nhiều quy định chưa đầy đủ, chặt chẽ và hoàn thiện dẫn đến bỏ lọt tội phạm và gây oan sai.
3. Căn cứ pháp lý xác định oan sai
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm có những diễn biến phức tạp, số vụ án, người phạm tội, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội có chiều hướng gia tăng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã có nhiều nỗ lực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Về cơ bản, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Các cơ quan tiến hành tố tụng đã khắc phục những tồn tại, thiếu sót trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; nhờ đó tình hình oan, sai trong tố tụng hình sự được hạn chế đáng kể. Tuy nhiên, so với yêu cầu cải cách tư pháp, yêu cầu của Hiến pháp 2013 thì tình hình oan, sai trong tố tụng hình sự vẫn còn nghiêm trọng.
Căn cứ pháp lý xác định một công dân bị oan trong Tố tụng hình sự là các quyết định mang tính gỡ tội, hoặc không xử lý một hay một số hành vi phạm tội trong trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi. Nhìn chung, các nước đều quy định căn cứ xác định một công dân bị oan là một phán quyết của Toà án, đây có thể là một phán quyết sơ thẩm hoặc phúc thẩm. Tuy nhiên, một số nước lại chỉ nhấn mạnh việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan khi Toà phúc thẩm tuyên vô tội (hủy bản án kết tội). Khác với pháp luật của một số nước trên thế giới, pháp luật Việt Nam của chúng ta thừa nhận một người bị oan trong mọi giai đoạn Tố tụng hình sự. Đây là điểm ưu việt của pháp luật nước ta, có như vậy thì quyền và lợi ích hợp pháp của người bị oan mới được bảo vệ một cách triệt để. Quyết định mang tính minh oan là quyết định tố tụng đặc thù của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những quyết định chứng tỏ nỗi oan khuất của một người đã được làm sáng tỏ.
Tuỳ thuộc vào các giai đoạn tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể ra một trong các quyết định được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cụ thể như sau:
- Quyết định đình chỉ điều tra (Điều 248);
- Quyết định đình chỉ vụ án (Điều 282, 359);
- Bản án có hiệu lực tuyên bị cáo không phạm tội;
- Quyết định của Toà án giảm nhẹ hình phạt một cách đáng kể hoặc áp dụng điều khoản về tội danh nhẹ hơn.
Xem thêm: Oan sai trong tố tụng hình sự là gì? Quy định về bồi thường oan sai
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Nguyên nhân dẫn đến oan sai và hậu quả của các bản án oan sai? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!