Pháp luật Hoa Kỳ được xây dựng dựa trên nền tảng pháp luật Anh, vì vậy, án lệ Hoa Kỳ cũng mang những đặc trưng cơ bản của án lệ Anh, như việc thừa nhận án lệ là một nguồn luật chính thống bên cạnh luật thành văn. Tuy nhiên, sau khi giành được độc lập vào năm 1776, Liên bang Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quyết định phát triển pháp luật theo một khuynh hướng mới để phù hợp với chế độ chính trị, hoàn cảnh xã hội của một quốc gia Liên bang đa dân tộc, đa tôn giáo, trong đó khuynh hướng xây dựng án lệ dù có những điểm chung trong quy trình xây dựng, phát triển, song cũng có những đặc trưng cơ bản riêng, cụ thể:

- Bản chất án lệ của Hoa Kỳ linh hoạt, mềm dẻo hơn án lệ của Anh (ở Hoa Kỳ gồm có 02 loại án lệ, án lệ ràng buộc và án lệ thuyết phục, trong đó án lệ thuyết phục cũng chiếm một khối lượng khá lớn; án lệ Hoa Kỳ được tất cả các Tòa án trích dẫn thường xuyên, nhưng trong các bản án cũng dành chỗ cho quan điểm của các thẩm phán về chính sách chung, đặc biệt những vụ việc mà Tòa án coi là quan trọng; trong án lệ các thẩm phán Hoa Kỳ đề cập nhiều hơn tới hệ quả thực tiễn của một phán quyết phù hợp với nhu cầu chính sách hơn hay là sự kiên định của người thẩm phán trong việc xem xét vụ việc hiện tại).

- Ở Anh, án lệ không chỉ được ban hành để giải thích luật thành văn, mà còn có vai trò trong sáng tạo ra một số quy phạm thành văn, ví dụ những lĩnh vực như: Hợp đồng, bồi thường trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, cũng như hành vi phạm tội nghiêm trọng như giết người và hành hung tập thể là sản phẩm của cơ quan tư pháp chứ không phải là cơ quan lập pháp. Còn ở Hoa Kỳ, án lệ được tạo ra bởi hoạt động giải thích luật thành văn, vì vậy, án lệ giải thích ở Hoa Kỳ có giá trị ràng buộc cao.

Tuy có điểm khác biệt về bản chất án lệ giữa các quốc gia trong hệ thống thông luật, song hầu hết các quốc gia đều có điểm chung trong quy trình xây dựng án lệ:

1. Xem xét các bản án của Tòa án

Tòa án có thẩm quyền ban hành án lệ xem xét các bản án của Tòa án cấp dưới, đáp ứng các tiêu chí lựa chọn, đề xuất, phát triển án lệ

Ở Hoa Kỳ có hai hệ thống Tòa án: Tòa án liên bang và Tòa án tiểu bang. Việc lựa chọn đề xuất các bản án để phát triển án lệ ở Hoa Kỳ thuộc về Tòa án liên bang, mà cao nhất trong hệ thống là Tòa án tối cao liên bang. Tất cả các Tòa án liên bang và tiểu bang đều bị ràng buộc bởi quyết định của Tòa án tối cao Hoa Kỳ, lẽ dĩ nhiên là thẩm quyền xét xử của Tòa án tối cao Hoa Kỳ và các Toà án liên bang chỉ mở rộng tới các vấn đề về luật liên bang.

Các Tòa án tiểu bang là nơi lưu trữ thông luật rất lớn. Mặt dù một số bang hiện nay chú trọng nhiều hơn tới luật thành văn và quá trình pháp điển hóa song tất cả các bang đều kế thừa thông luật từ nước Anh và hầu hết các quyết định tại Tòa án tiểu bang đều chiểu theo án lệ. Tất cả các bang đã lập nên một khối lượng khổng lồ án lệ bao gồm tất cả nội dung quan trọng trong thẩm quyền xét xử của họ. Việc này có tác động đáng kể tới công việc của các thẩm phán, công tác thực hành luật, quản lý thông tin pháp luật và cách ứng xử của người dân với pháp luật. Bởi luật liên bang là tối cao trong những lĩnh vực mà nó chi phối nên các Tòa án tiểu bang phải bảo đảm rằng luật tiểu bang phải theo đúng luật liên bang. Vì mục đích này, Tòa án tiểu bang nhìn chung được trao quyền đưa ra quyết định về những vấn đề liên quan tới luật liên bang, nhất là Luật Hiến pháp. Để làm được như vậy, các Tòa án tiểu bang thường tôn trọng quyết định của Tòa án phúc thẩm liên bang và Tòa xét xử nằm trong bang của mình, mặc dù về mặt kỹ thuật, Tòa án tiểu bang chỉ phải tuân theo các quyết định của Tòa án tối cao Hoa Kỳ. Quyết định của Tòa án tiểu bang về luật liên bang có thể được kháng cáo lên Tòa án liên bang. Như vậy, việc đề xuất phát triển án lệ ở Hoa Kỳ không bao gồm phán quyết của Tòa án tiểu bang, nhưng phán quyết của Tòa án cấp này có thể được viện dẫn, tham khảo học hỏi lẫn nhau ở các bang thành viên.

2. Công bố rộng rãi án lệ trên phương tiện thông tin đại chúng

Ở nhiều nước trên thế giới, việc công bố bản án được thực hiện thường xuyên, liên tục, rộng rãi bằng nhiều phương tiện thông tin đại chúng, kể cả trên hệ thống Internet. Đối với các nước theo hệ thống luật chung Anh – Mỹ (Common Law), những bản án mẫu được tuyển chọn, đăng tải trong các báo cáo tổng hợp án lệ (Law Report) và trở thành án lệ (Case Law) là nguồn của pháp luật. Ví dụ: ở Anh, quy trình một bản án được coi là án lệ sau khi được thẩm phán tuyên có hiệu lực cho đến khi được chính thức xuất bản vào những tuyển tập án lệ chính thức trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Đầu tiên, bản án khi được thẩm phán tuyên sẽ được các báo đưa tin (Báo The Times thường đưa tin khoảng 10% các bản án của Tòa án hàng ngày). Tiếp đó, trước khi bản án được xuất bản trong những tuyển tập án lệ chuyên biệt (Specialiesd Law Reports), một số tạp chí chuyên ngành sẽ đăng tải ngắn gọn nội dung vụ việc đã xử lý trong các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Luật sư tư vấn (The Solicitors), Tạp chí Luật mới (The New Law Journal), sau đó toàn văn sẽ được xuất bản ở một trong hai hoặc cả hai tuyển tập án lệ mang tên “All England Law Reports” và “Weekly Law Reports”. Cuối cùng, bản án có giá trị chính thức sẽ được xuất bản vào hàng loạt tuyển tập án lệ chính thức của nước Anh – Law Reports. Quá trình để một bản án ghi nhận vào trong tuyển tập án lệ chính thức Law Reports thường mất 09 tháng kể từ khi vụ việc đó được xử xong.

Riêng ở Hoa Kỳ, khi xét xử các hành vi vi phạm pháp luật và các tranh chấp nảy sinh, các Tòa án cần phải diễn giải luật bằng các bản án trước đó của Tòa án cùng cấp hoặc Tòa án cấp cao hơn. Đây được gọi là nguyên tắc theo quyết định trước hay đơn giản gọi là án lệ, tiền lệ pháp. Tòa án tối cao liên bang công bố các quyết định của Tòa án tối cao thông qua website chính thức (http://www.supremecourt.gov). Các quyết định của Tòa án tối cao liên bang có thể được tìm thấy trong các báo cáo pháp luật của Hoa Kỳ.

3. Ghi chép án lệ vào tập san

Ở các quốc gia theo truyền thống pháp luật thông luật, việc ghi chép án lệ được trình bày theo các tuyển tập và theo từng lĩnh vực: Ví dụ ở Anh, hàng năm tổng kết công tác xét xử, thượng nghị viện lựa chọn và xuất bản các án lệ thành các tuyển tập theo từng lĩnh vực (được ghi chép trong Law Reports, All England Law Reports, Weekly Law Reports.)

Tại Hoa Kỳ, tập hợp các án lệ được in trong tuyển tập “Trình bày về pháp luật” (Restatement of the Law) của một hiệp hội tư nhân có tên là Viện Luật Hoa Kỳ (American Law Institute).

4. Quy định về bãi bỏ án lệ

Trong hệ thống Common Law, các án lệ được coi là luật và nó cũng có thể bị bãi bỏ, điều này làm cho thông luật trở nên mềm dẻo và thích nghi được với sự thay đổi của các điều kiện xã hội. Theo lý thuyết, án lệ trong hệ thống Common Law sẽ không tự nhiên mất đi hiệu lực của nó cho đến khi nó bị bãi bỏ. Có hai cách để án lệ có thể bị bãi bỏ: (i) Án  lệ có thể bị bãi bỏ bởi chính Tòa án đã tạo ra nó hoặc Tòa án cấp trên; (ii) Án lệ có thể bị bãi bỏ bởi một luật do cơ quan lập pháp thông qua.

Trong cách thức án lệ bị bãi bỏ bởi Tòa án, chúng ta cần phân biệt việc án lệ bị bãi bỏ với việc một bản án, quyết định bị Tòa án cấp trên thay đổi về nội dung trong quá trình tố tụng khi quyết định của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo và xét xử tại Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm có thẩm quyền xét lại và thay đổi bản án của Tòa án cấp dưới. Tuy nhiên, hệ quả của việc sửa chữa các nội dung quyết định bị phúc thẩm hoàn toàn khác với việc một án lệ bị bãi bỏ. Vì án lệ là luật nên việc một án lệ bị bãi bỏ có thể dẫn đến hệ quả thay đổi về pháp luật. Vì vậy, thực tiễn về bãi bỏ những án lệ đã lỗi thời, lạc hậu, trái pháp luật trong hệ thống Common Law luôn gắn với việc những án lệ mới được thiết lập để làm cho pháp luật phù hợp hơn với sự thay đổi của đời sống xã hội.

Một nghiên cứu dựa trên các phán quyết của Tòa án tối cao Hoa Kỳ trong 46 năm (từ năm 1960 đến năm 2005) đã chỉ ra ít nhất 74 lần Tòa án này bác bỏ các án lệ của chính nó. Thực tiễn này cho thấy, Tòa án tối cao Hoa Kỳ không ngần ngại thay đổi, sửa chữa  những sai lầm qua rất nhiều các án lệ đã bị bãi bỏ. Những ví dụ sau đây sẽ cho thấy Tòa án này bãi bỏ các án lệ như thế nào. Trong đó, nhiều vụ án, phải đợi một thời gian rất dài để Tòa án tối cao Hoa Kỳ tuyên bố từ bỏ sai lầm của họ trong các án lệ:

Ví dụ: Trong án lệ vụ Brown v. Board of Education (1954), Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã bãi bỏ án lệ đã được thiết lập trong vụ Plessy v. Ferguson (1896). Theo án lệ trong vụ án  Plessy v. Ferguson  (1896), Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa người da trắng và người da đen (cho phép các công ty vận tải đường sắt cung cấp các dịch vụ theo hình thức phân biệt toa tàu dành cho người da trắng khác với toa tàu dành cho người da đen). Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã cho rằng sự phân biệt này không vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ (liên quan đến Tu chính án lần thứ XIV về bình đẳng quyền công dân). Từ án lệ của vụ  Plessy v. Ferguson  (1896) đã tạo ra một học thuyết về phân biệt đối xử ở trong xã hội Mỹ có tên gọi  “phân chia nhưng bình đẳng”  (separate but aqual). Quan điểm sai trái này đã chính thức bị bãi bỏ bởi án lệ của vụ án Brown v. Board of Education  (1954), Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã phân tích và tuyên bố rằng, bất cứ có sự phân biệt đối xử nào giữa người da trắng và da đen ở nơi công cộng như việc phân chia phòng học hay phương tiện giao thông công cộng… đều là vi phạm Hiến pháp. Những luật nào có sự thừa nhận sự phân biệt “phân chia nhưng bình đẳng” đều được coi là vi phạm Hiến pháp và nó phải bị bãi bỏ. Rõ ràng, trong ví dụ trên đây cho thấy,  khi các điều kiện xã hội như quan điểm về bình quyền, quan điểm chính trị, xã hội thay đổi sẽ làm cho các án lệ sai trái có thể bị bãi bỏ.

5. Nguyên tắc áp dụng án lệ tại Mỹ

Nguyên tắc Stare decisis cũng là nguyên tắc cơ bản trong việc áp dụng án lệ ở Mỹ. Tuy nhiên có thể thấy rõ rằng việc áp dụng án lệ ở Mỹ linh hoạt và mềm dẻo hơn ở Anh, chính điều đó đã làm cho pháp luật Mỹ tuy chịu ảnh hưởng bởi pháp luật Anh nhưng luôn chứng tỏ được sự độc lập và đặc trưng của mình và các thẩm phán Mỹ cũng được đánh giá là năng động và ít bảo thủ hơn so với các thẩm phán Anh. Nguyên tắc áp dụng án lệ ở Mỹ còn được gọi là Rule of precedent, theo đó một toà án Mỹ không bị ràng buộc bởi chính các án lệ của mình.

Toà án tối cao liên bang không có nghĩa vụ phải tuân thủ một cách cứng nhắc các phán quyết trước đây của mình, bởi lẽ đó là cơ quan tối cao có trách nhiệm đối với chính sách pháp lý tổng thể của đất nước, cho nên toà án tối cao cần phải linh hoạt trong xét xử.

Toà án cấp dưới của liên bang và toà án bang có nghĩa vụ tuân thủ các bản án là án lệ của Toà án tối cao liên bang. Đối với các phán quyết của toà án cấp dưới của liên bang về những vấn đề mang tính liên bang thì toà án các bang không bắt buộc phải tuân theo, tuy nhiên chúng thường được nghiên cứu cẩn thận. Tương tự, các phán quyết của toà án bang về những vấn đề mang tính liên bang cũng không ràng buộc các toà án liên bang. Đối với các phán quyết của toà án phúc thẩm khu vực của liên bang thì các phán quyết này chỉ mang tính bắt buộc tuân theo đối với các toà án cấp dưới nằm trong lãnh thổ khu vực đó chứ không ràng buộc các toà án khu vực khác. Tương tự, các phán quyết của toà án cấp trên của bang là án lệ chỉ có giá trị ràng buộc đối với các toà án cấp dưới của bang đó. Tuy nhiên thực tế cho thấy các phán quyết của toà án cấp trên vẫn được toà án cấp dưới áp dụng.

Có thể thấy rằng các quốc gia cùng áp dụng án lệ tuy có áp dụng một số nguyên tắc cơ bản giống nhau nhưng mỗi quốc gia lại có những nguyên tắc riêng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của mình. Mỗi nguyên tắc lại có những ưu, nhược điểm riêng và mức độ hiệu quả cũng khác nhau. Tìm hiểu và nắm bắt được tất cả các nguyên tắc không phải là điều đơn giản.

Án lệ đã có một quá trình sử dụng lâu dài trong truyền thống Common Law nói chung và hệ thống pháp luật Anh, Mỹ nói riêng. Hiệu quả mà án lệ đem lại là không ít, chính vì thế mà án lệ mới tồn tại và phát triển như ngày nay cho dù ban đầu Anh áp dụng án lệ là bởi vì họ không có luật thành văn.

Trước hết, không thể phủ nhận rằng truyền thống Common Law là một truyền thống pháp luật lớn trên thế giới và có tầm ảnh hưởng sâu rộng đối với nhiều quốc gia, chẳng hạn như pháp luật Anh có ảnh hưởng đến các quốc gia như Mỹ, Canada, Australia, Ấn Độ, Singapore…; người ta dự đoán khoảng 1/3 loài người sống ở các nước có hệ thống pháp luật chủ yếu dựa trên pháp luật Anh, thậm chí có những quốc gia như Singapore có hệ thống pháp luật giống tới 90% hệ thống pháp luật Anh. Đây quả là một kết quả đáng quan tâm. Còn pháp luật Mỹ mặc dù cũng chịu ảnh hưởng quan trọng của pháp luật Anh nhưng người Mỹ đã có những cải cách làm cho pháp luật phù hợp hoàn cảnh kinh tế và chính trị của Mỹ. Vì vậy hệ thống pháp luật Mỹ xứng đáng được đứng một cách độc lập chứ không đơn thuần chỉ là phần phụ bản của pháp luật Anh. Pháp luật Mỹ có ảnh hưởng lớn đến hệ thống pháp luật của các quốc gia khác như Nhật Bản, Philipine, một số nước ở châu Mỹ – Latinh… thậm chí luật của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO hiện nay cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ luật thương mại Mỹ.