Vai trò lãnh đạo này đã được xác định và khẳng định qua quá trình lịch sử Cách mạng Việt Nam, đặc biệt là từ khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập năm 1945 tới nay. về phương diện pháp lý, vai trò lãnh đạo của Đảng đã được quy định rõ trong hiến pháp kể từ Hiến pháp năm 1980 và được kế thừa trong tất cả các bản hiến pháp sau đó.

Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cả hệ thống chính trị đã được nghiên cứu, làm rõ trong Chương IV của Giáo trình. Riêng vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước đã được xác định thành nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trong hiến pháp hiện hành, nguyên tắc này được thể hiện qua các quy định tại Điều 4 với hai nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Khoản 1 Điều 4 Hiến pháp năm 2013). Nói cách khác, Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, cụ thể là bộ máy nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, không thể được lãnh đạo bởi một lực lượng nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước là một nét đặc thù trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nói riêng và của bộ máy nhà nước các nước Xã hội Chủ nghĩa nói chung. Trên thực tế thì các nhà nước trên thế giới thường do các đảng chính trị lãnh đạo. Song, hiến pháp các quốc gia thường không quy định một cách rõ ràng và đương nhiên một đảng chính trị nào có vai trò lãnh đạo duy nhất. Các dâng chính trị ở các quốc gia thường cạnh tranh với nhau để nắm vai trò lãnh đạo Nhà nước thông qua các buộc bầu cử phổ thông và cho một nhiệm kì nhất định. Khi hết nhiệm kì, các đảng chính trị lại tiếp tục cạnh tranh để giành quyền lãnh đạo Nhà nước trong nhiệm kì mới. Chỉ có các nước Xã hội Chủ nghĩa như Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cu-ba mới quy định hoặc ghi nhận Đảng Cộng sản là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước.

Thứ hai, hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật (Khoản 3 Điều 4 Hiến pháp năm 2013). Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức rộng lớn với hơn 4 triệu đảng viên. Các tổ chức của Đảng được thành lập một cách rộng khắp từ trung ương đến địa phương. Ở trung ương có các tổ chức như Ban Chấp hành trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ủy ban Kiểm tra trung ương, Ban Kinh tế trung ương, Ban Nội chính trung ương, Ban Tổ chức trung ương, Văn phòng trung ương ...Ở các cơ quan nhà nước, bộ, ngành ở trung ương và ở địa phương từ cấp tỉnh tới cấp xã, thậm chí thôn, bản, tổ dân phố đều có các tổ chức đảng tương ứng như ban cán sự, ban chấp hành đảng bộ, ban chấp hành chi bộ ...Nguyên tắc “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước” quy định rằng tuy Đảng Cộng sản Việt Nam nắm vai trò lãnh đạo duy nhất đối với Nhà nước, có nghĩa là các tổ chức đảng lãnh đạo các cơ quan nhà nước tương ứng; song hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật do Nhà nước đặt ra. Điều này là hoàn toàn đúng đắn bởi pháp luật là quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí chung và có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các chủ thể trong xã hội. Triệt để tuân thủ pháp luật là tinh thần cốt lõi của nguyên tắc pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa và các tổ chức của Đảng, đảng viên không phải là ngoại lệ.

Như vậy, nguyên tắc: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước” xác lập một mối quan hệ hai chiều của Đảng và Nhà nước: một mặt, Đảng là lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với Nhà nước; mặt khác, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật do Nhà nước đặt ra. Sự cân bằng giữa vai trò của Đảng và Nhà nước trong mối quan hệ này là một lý tưởng; song nó đặt ra vấn đề không hề đơn giản cho thực tiễn vận hành phương thức lãnh đạo của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam là “đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”.

Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng chính trị, một thiết chế vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính xã hội. Các tổ chức của Đảng không phải là cơ quan nhà nước có nghĩa là không trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước đối với xã hội; các cơ quan trong bộ máy nhà nước mới là chủ thể trực tiếp thực hiện vai trò đó. vấn đề là phương thức lãnh đạo của Đảng cần được xác định như thế nào để các tổ chức Đảng và đảng viên không vượt ra khỏi vai trò lãnh đạo mà trở thành làm thay công việc của các cơ quan nhà nước, về nguyên tắc, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định tập trung vào những phương diện sau:

- Lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lợn;

- Lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên để thực hiện cương lĩnh, chiến lượng, các chủ trương, chính sách của Đảng;

- Lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước.

Mặc dù đã được xác định về nguyên tắc như trên song cơ chế cụ thể để thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản vẫn còn là một câu chuyện dài. Phương thức lãnh đạo hiện nay của Đảng đối với Nhà nước vẫn càn tiếp tục được đổi mới.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)