Nguyên tắc của mỗi ngành luật được hiểu là những tư tưởng chỉ đạo, xuyên suốt trong quá trình xây dựng và áp dụng của ngành luật đó. Hoạt động tố tụng dân sự là hoạt động thực tiễn có tính khoa học nên cũng phải tuân theo các quy tắc đã được đặt ra. Các nguyên tắc của một ngành luật thường được quy định trong các văn bản pháp luật về ngành luật đó và được quy định dưới dạng quy phạm chung để làm cơ sở cho việc thực hiện áp dụng pháp luật. Luật Tố tụng dân sự Việt Nam là một ngành luật cụ thể của hệ thống pháp luật Việt Nam nên cũng mang những đặc điểm chung đó, các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự cũng được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên tắc của Luật Tố tụng dân sự Việt Nam là những nguyên lý, tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự và được ghi nhận trong các văn bản tố tụng dân sự.
1. Khái niệm về hòa giải
Hòa giải là hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa. Hòa giải cũng là giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh chấp). Hòa giải còn được hiểu ở góc độ rộng hơn là một quá trình, trong đó bên thứ ba giúp hai bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng giải quyết vấn đề của họ. Hòa giải cũng được coi là sự tiếp nối của quá trình thương lượng, trong đó các bên cố gắng làm điều hoà những ý kiến bất đồng.
Các bên có liên quan đến vụ việc thì phải có sự tham gia của bên thứ ba đóng vai trò trung gian, là cầu nối cho các bên ngồi lại với nhau, tự thỏa thuận để giải quyết vấn đề mâu thuẫn. Bên thứ ba có thể là cá nhân hay pháp nhân nhưng phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có kinh nghiệp trung lập đối với các bên có tranh chấp, không có lợi ích liên quan hoặc xung đột đến đến lợi ích của các bên tranh chấp, họ không có quyền quyết định hay áp đặt bất cứ vấn đề gì để ràng buộc các bên tranh chấp. Quyết định cuối cùng vẫn thuộc về các bên tranh chấp khi họ thỏa thuận thống nhất được ý chí với nhau để giải quyết vấn đề trên cơ sở hướng dẫn, giúp đỡ của người thứ ba làm trung gian hoà giải.
Quá trình hoà giải không chịu sự chi phối bởi pháp luật về hòa giải mà hòa giải chỉ là một biện pháp giải quyết tranh chấp, là sự thỏa thuận, thể hiện ý chí, quyền định đoạt của các bên khi giải quyết tranh chấp. Do đó cam kết từ kết quả hòa giải không có tính chất bắt buộc thi hành mà dựa trên sự tự nguyện, thiện chí giữa các bên.
Hòa giải trong tố tụng dân sự được quy định tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”.
Hòa giải trong tố tụng dân sự là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự. Hòa giải trong tố tụng dân sự là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành theo pháp luật tố tụng dân sự nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận, thương lượng với nhau về giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân là các bên tranh chấp thông qua vai trò trung gian của Tòa án.
2. Phạm vi hòa giải trong tố tụng dân sự
Phạm vi hòa giải trong tố tụng dân sự là các tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại các Điều 26 (những tranh chấp dân sự), Điều 28 (những tranh chấp về Hôn nhân gia đình), Điều 30 (những tranh chấp về kinh doanh, thương mại), Điều 32(những tranh chấp về lao động) của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Thành phần tham gia hòa giải được quy định tại Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, gồm: Thẩm phán chủ trì phiên họp; Thư ký tòa ghi biên bản cuộc họp; các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp cuatr đương sự; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người phiên dịch (nếu có). Ngoài ra, còn có chủ thể liên quan đến lĩnh vực Lao động, Hôn nhân và gia đình.
3. Nguyên tắc tiến hành hòa giải
Được quy định tại Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:
“1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.
2. Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:
a) Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình;
b) Nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.”
Như vậy, hòa giải sẽ được Tòa án tiến hành trước khi xảy ra xét xử sơ thẩm đối với các vụ án có thể hòa giải được theo luật định. Vì có thể giúp đỡ các đương sự thỏa thuận, thương lượng với nhau về giải quyết vụ án; được xem là một trong những biện pháp giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất. Kết quả hòa giải thành giúp giải quyết được mâu thuẫn giứa các bên mà không phải mở phiên tòa xét xử; các bên sẽ tự nguyện thi hành kết quả. Vì không phải tiến hành xét xử nên vụ việc không phải trải qua thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm theo luật định từ đó tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của các bên liên quan và Nhà nước; hạn chế tranh chấp kéo dài. Việc các bên được tôn trọng sự tự nguyện chính là bảo đảm quyền tự định đoạt của các chủ thể. Nội dung hòa giải không được vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội. Vì một bên là nguyên tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành, một bên là hệ thống quy tắc tiêu chuẩn nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội.
4. Vụ án Dân sự không được hòa giải
Theo Điều 206 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, những vụ án dân sự không được hòa giải bao gồm:
- Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước: gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước chính là làm tổn hại đến lợi ích chung của toàn xã hội. Chính vì vậy mà người gây thiệt hại sẽ không có quyền được thương lượng với Nhà nước về mức bồi thường hay cách thức bồi thường như thế nào mà bắt buộc phải bồi thường thiệt hại đã gây ra theo quy định của Nhà nước. Tuy nhiên, có thể thấy rằng Nhà nước đang chiếm nhiều ưu thế, đã đi ngược lại quy tắc quyền tự định đoạt và quyền quyết định của mỗi chủ thể.
- Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội: pháp luật hay đạo đức xã hội vốn được coi là cơ sở hình thành nên chuẩn mực xã hội, ngăn ngừa những hành vi vi phạm, chính vì vậy mà các giao dịch dân sự trái với pháp luật hay trái với đạo đức là giao dịch dân sự vô hiệu dẫn đến quyền và nghĩa vụ giữa các bên không được Nhà nước thừa nhận nên Tòa án sẽ không tiến hành hòa giải được.
5. Vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được
Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sư năm 2015 những vụ án dân sự không tiến hành hỏa giải được:
- Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt: vì nếu đương sự có liên quan vắng mặt thì quyền lợi của họ sẽ bị vi phạm hoặc không thể thực hiện được. Lúc này Tòa án phải đưa ra quyết định để đưa vụ án ra xét xử.
- Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng: lý do chính đáng là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, đương sự cũng không lường trước được sự việc sẽ xảy ra nhưng có ý thức tham gia phiên hòa giải và Tòa án vẫn phải đưa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
- Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự: luật dân sự có quy định một trong các điều kiện làm giao dịch dân sự có hiệu lực là yêu cầu về chủ thể phải đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật dân sự. Trong khi đó, vợ hoặc chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình gắn liền với quyền nhân thân và không thể trao hay ủy quyền cho bất cứ ai nên vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn bị mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án cũng không thể tiến hành hòa giải được.
- Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giả: mặc dù hòa giải là một thủ tục bắt buộc phải thực hiện trước khi diễn ra xét xử sơ thẩm nhưng vẫn phải tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự nếu họ không có mong muốn tiến hành hòa giải.
6. Các quyết định của tòa án dựa trên kết quả của hòa giải
Sau khi hòa giải được thực hiện theo trình tự thủ tục theo quy định tại khoản 4 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì kết quả của phiên hòa giải bao gồm hai trường hợp hòa giải thành và hòa giải không thành:
Trường hợp hòa giải thành: Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành và biên bản đó sẽ được công nhận nếu đáp ứng quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sau 7 ngày không thay đổi ý kiến thỏa thuận và các bên đã thỏa thuận với nhau giải quyết toàn bộ vụ án).
Trường hợp hòa giải không thành: và không có căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án thì Tòa án lập biên bản hòa giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền ra quyết định này và quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung theo qui định tại Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)