1. Nguyên tắc sử dụng đất là gì?
Trong cuộc sống hằng ngày đất đai đóng vai trò hết sức quan trọng, nó là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế- xã hội, quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông- lâm nghiệp, là một trong những nguồn lực quan trọng cho chiến lược phát triển nền nông nghiệp quốc gia nói riêng cũng như chiến lược phát triển nền kinh tế nói chung. Nó là môi trường sống, là cơ sở tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều 54 Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định:
Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật.
Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội, nó là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc các công trình công nghiệp, giao thông và các công trình thuỷ lợi. Ngoài ra việc sử dụng đất đai còn ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề an sinh xã hội, quốc phòng an ninh của quốc gia. Chính vì tầm quan trọng đó cho nên khi tổ chức, cá nhân tiến hành sử dụng đất đai thì phải tuân thủ theo một số nguyên tắc do pháp luật đặt ra.
Có thể thấy, nguyên tắc sử dụng đất là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Nhà nước đối với việc sử dụng và quản lý đất đai và cũng là nguyên lý cấu trúc để xây dựng quy định về pháp luật đất đai.
Mặt khác, nguyên tắc sử dụng đất là một khái niệm, quy định được ghi nhận trong pháp luật đất đai sẽ được Luật Minh Khuê làm rõ ở phần sau đây.
2. Nguyên tắc sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013
Căn cứ văn bản hợp nhất Luật Đất đai số 21/VBHN-VPQH ngày 10/12/2018 - gọi tắt Luật Đất đai; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 Sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; Thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 Quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sưng một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai; Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/05/2014 về hồ sơ địa chính, Nghị định 35/2015/NĐ-CP ngày 13/04/2015 về quản lý đất trồng lúa; Thông tư 01/2021/TT-BTNMT ngày 12/4/2021 Quy định kỹ thuật việc lập, điều chinh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Quy định cụ thể như sau:
Theo Điều 6 Luật đất đai 2013, có ba nguyên tắc sử dụng đất:
- Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất.
- Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh.
- Người sử dụng đất thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Phân tích những nguyên tắc sử dụng đất
- Nguyên tắc sử dụng đất đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất.
Quy hoạch đất đai là sự tính toán, phân bổ đất đai cụ thể về số lượng và chất lượng, vị trí, không gian… cho các mục tiêu kinh tế – xã hội. Nó đảm bảo cho việc sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhất phù hợp với các điều kiện về đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng và từng ngành sản xuất.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt.
Người sử dụng đất có nghĩa vụ sử dụng đất theo đúng mục đích được thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp để tránh tình trạng sử dụng đất sai mục đích làm thoái hóa, xuống cấp tình trạng thực tế của đất đai.
Pháp luật đất đai hiện hành thể hiện nguyên tắc này như sau:
- Nghiêm cấm hành vi: vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được tuyên bố; không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích.
- Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải tuân theo các nguyên tắc tại điều 35 Luật đất đai 2013 như: Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; Được lập từ tổng thể đến chi tiết; Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu; Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh; Sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả; Dân chủ và công khai; Bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường;…
- Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Mục đích sử dụng đất được thể hiện trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Luật Đất đai 2013; quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, …
- Trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 91/2019 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
- Nguyên tắc sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh.
Cần hiểu việc sử dụng đất đai hợp lý và tiết kiệm trên tinh thần tận dụng mọi diện tích sẵn có dùng đúng vào mục đích quy định theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được phê duyệt.
Nước ta còn rất lãng phí trong việc khai thác và sử dụng tiềm năng đất đai. Vì vậy, với quá trình phát triển của đất nước, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần đi trước một bước tạo cơ sở khoa học cho việc sử dụng đất một cách hợp lý và tiết kiệm. Việc giữ gìn bảo vệ nguồn tài nguyên đất nhắc nhở con người biết khai thác nhưng cũng thường xuyên cải tạo và bồi bổ đất đai vì mục tiêu trước mắt và vì lợi ích lâu dài.
Pháp luật thể hiện nguyên tắc này như sau:
- Về mặt chủ thể, có vai trò quan trọng nhất trong việc thực hiện nguyên tắc này là Nhà nước với vai trò là người đại diện của nhân dân trong quản lý và sử dụng đất đai. Nhà nước đóng vai trò quan trọng từ việc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất. Nội dung này sẽ xác định cách thức và mục đích sử dụng đất có phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi và có lợi ích hiệu quả hay không, từ đó tạo tiền đề cho việc sử dụng đất có hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm, thích hợp với tính chất của từng loại đất, phù hợp với yêu cầu chung của xã hội.
- Pháp luật quy định về việc lấy ý kiến về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất tại Điều 43 Luật Đất đai 2013.
- Quy định cụ thể về các vấn đề giao đất, cho thuê đất, sử dụng các loại đất có hiệu quả, tiết kiệm.
- Quy định về việc giám sát, theo dõi và đánh giá của các chủ thể. Luật đất đai định hướng tăng cường hơn sự theo dõi, giám sát, đánh giá.
- Nguyên tắc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được quy định tại Điều 35 Luật Đất đai, theo đó, ta có thể thấy rằng, những nguyên tắc này là sự cụ thể rõ ràng về nguyên tắc sử dụng đất đai hợp lý và tiết kiệm, nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
- Quy định về chuyển mục đích sử dụng đất (Điều 57 Luật đất đai).
- Quy định về hạn mức giao đất nông nghiệp, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân (Điều 129, 130 Luật đất đai).
- Quy định khuyến khích khai thác, đưa vào sử dụng diện tích đất chưa sử dụng.
Hiện nay, ở nhiều tỉnh phía Nam có diện tích trồng lúa nước không mang lại hiệu quả kinh tế cao, trong khi đó nếu sử dụng để nuôi trồng thủy sản mang lại lợi nhuận lớn cho người sản xuất nông nghiệp và cho nhu cầu xuất khẩu, cho thấy việc sử dụng đất chưa hiệu quả. Vì vậy phải chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu của từng vùng. Ngoài ra, vẫn xảy ra các hiện tượng lấn đất gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất khác. Hành vi xâm phạm đến quyền sử dụng đất của người khác bị xử phạt theo quy định của pháp luật sẽ được đề cập ở phần sau đây.
- Nguyên tắc người sử dụng đất thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Người sử dụng đất cần tuân thủ các quy định của pháp luật để bảo vệ nguồn tài nguyên đất. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về đất đai sẽ bị xử lý nghiêm minh.
Theo Điều 206 Luật đất đai năm 2013 về xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai:
1. Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước, cho người khác, ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho Nhà nước hoặc cho người bị thiệt hại.
Như vậy, những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định 91/2019/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai và Nghị định số 04/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; tài nguyên nước và khoáng sản; khí tượng thủy văn; đo đạc và bản đồ. Nếu mức độ nghiêm trọng thì còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, người có hành vi gây thiệt hại cho người khác thì còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo mức thiệt hại thực tế cho người bị hại.
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê, Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn pháp luật qua email : lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.