1. Trợ giúp pháp lý là gì?

- Định nghĩa: cụm từ Trợ giúp pháp lý (TGPL) “trợ giúp pháp lý” được Liên Hợp Quốc định nghĩa như sau: TGPL-“Trợ giúp pháp lý” bao gồm tư vấn pháp lý, hỗ trợ và đại diện cho người bị tạm giam, bị bắt hoặc bị tù giam, bị tình nghi hay bị cáo buộc, hoặc bị buộc tội phạm tội hình sự và cho các nạn nhân và nhân chứng trong quá trình tố tụng hình sự, được cung cấp miễn phí cho những người không có đủ điều kiện hoặc khi lợi ích của công lý đòi hỏi như vậy. Hơn nữa, TGPL cũng có chủ đích bao hàm các khái niệm về giáo dục pháp luật, tiếp cận thông tin pháp lý và các dịch vụ khác được cung cấp cho các đối tượng thông qua các cơ chế giải quyết tranh chấp và quá trình tư pháp phục hồi.

Theo định nghĩa của Bộ Tư Pháp Việt Nam: TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.

2. Quy định về quyền trẻ em trong hoạt động tư pháp

Quyền của trẻ em được thể chế hóa trong Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp luật. Trẻ em là đối tượng dễ bị tác động bởi những nguyên nhân khách quan từ xã hội mang lại, chính vì vậy Đảng và Nhà nước luôn quan tâm chăm sóc và giáo dục. Trẻ em vi phạm pháp luật nguyên nhân chủ yếu là do thiếu hiểu biết về pháp luật nên việc xử lý, áp dụng hình phạt đối với trẻ em nhằm mục đích giáo dục là chính. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 dành một chương riêng (Chương XXVIII) quy định thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt đối với trẻ em, người dưới 18 tuổi. Theo đó, chỉ áp dụng các biện pháp ngăn chặn, áp giải đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết.

Điều luật phân định hai lứa tuổi khác nhau xác định theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi; người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Luật Trẻ em quy định “trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em quy định “trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi là một trong những nguyên tắc tiến hành tố tụng quan trọng phù hợp Hiến pháp 2013 và Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Luật pháp quy định, không một trẻ em nào có thể bị bắt hay bị tạm giam, tạm giữ trong đồn cảnh sát hoặc nhà tạm giữ nếu chưa có quyết định tạm giam, tạm giữ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Không trẻ em nào có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có phán quyết của tòa án.

Trẻ em là đối tượng TGPL đặc thù với những đặc điểm riêng về thể chất cũng như tâm lý nên thời gian qua hoạt động TGPL cho trẻ em luôn được các tổ chức TGPL quan tâm nghiên cứu phương thức thực hiện TGPL có hiệu quả, huy động các nguồn lực, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL cho trẻ em, góp phần tạo lập nền tư pháp thân thiện với trẻ em.

3. Về người thực hiện trợ giúp pháp lý cho người chưa thành niên

  Với điều kiện nguồn nhân lực thực hiện TGPL còn hạn chế, đối tượng TGPL rộng nên hiện nay chưa cho phép các tổ chức thực hiện TGPL bố trí nhóm Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách thực hiện TGPL cho từng đối tượng đặc thù. Đối với luật sư, pháp luật cho phép các Trung tâm TGPL căn cứ vào yêu cầu cụ thể của từng địa phương (nhu cầu TGPL cụ thể của từng nhóm đối tượng đặc thù, số lượng Trợ giúp viên pháp lý, điều kiện giao thông đi lại,…) để lựa chọn những luật sư có trình độ, kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm phù hợp để ký hợp đồng thực hiện TGPL.

   Điều kiện tiêu chuẩn về trình độ cũng như năng lực thực hành nghề nghiệp của người thực hiện TGPL được quan tâm. Cụ thể:

>> Xem thêm:  Quyền trẻ em là gì ? Các quyền cơ bản của trẻ em ?

   Về thể chế: Điều 19 Luật TGPL năm 2017 đã chuẩn hóa Trợ giúp viên pháp lý để có tiêu chuẩn tương đương với luật sư[6]. Quy định này bảo đảm Trợ giúp viên pháp lý ở nền tảng kiến thức pháp luật đầy đủ của người cung cấp dịch vụ TGPL, đồng thời có kinh nghiệm hành nghề - một trong những bảo đảm để có dịch vụ TGPL có chất lượng. Điểm b khoản 2 Điều 18 Luật TGPL quy định Trợ giúp viên pháp lý có nghĩa vụ tham gia các khóa tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ TGPL. Khoản 2Điều 4 Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định các nội dung tập huấn bắt buộc bao gồm: Kiến thức pháp luật cần thiết cho việc thực hiện trợ giúp pháp lý; Các kỹ năng thực hiện trợ giúp pháp lý; Quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở các quy định này, Trợ giúp viên pháp lý sẽ chủ động

   Về việc bồi dưỡng tăng cường năng lực cho người thực hiện TGPL: hàng năm, Cục Trợ giúp pháp lý có mở các lớp tập huấn bổ sung kiến thức pháp luật cũng như chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện TGPL. Đặc biệt, các lớp tập huấn về kỹ năng TGPL cho trẻ em được mở tại các khu vực (Bắc, Trung, Nam) nên đội ngũ người thực hiện TGPL đều có cơ hội tham gia. Giảng viên của lớp tập huấn đều là những người có kiến thức sâu rộng trong các lĩnh vực pháp luật liên quan đến trẻ em, có kinh nghiệm thực tiễn tham gia thực hiện các vụ việc TGPL cho trẻ em, có phương pháp sư phạm. Nội dung các lớp tập huấn khá toàn diện: kiến thức pháp luật (luật nội dung và luật hình thức), các kỹ năng làm việc với trẻ em ở từng giai đoạn tố tụng, từng trẻ em với hoàn cảnh đặc thù, tâm sinh lý lứa tuổi…. Do đó, người thực hiện TGPL sau khi tham gia lớp tập huấn đều đánh giá cao chất lượng bồi dưỡng, cho rằng nội dung thật sự hữu ích đối với công việc.

   Có thể nói, với hơn 20 năm hình thành và phát triển, đến nay hệ thống TGPL tại Việt Nam đã có đội ngũ người thực hiện TGPL có đầy đủ kiến thức pháp luật, kiến thức xã hội và kỹ năng, bảo đảm đáp ứng có hiệu quả nhu cầu TGPL của trẻ em.

4. Về tạo điều kiện thuận lợi tối đa để trẻ em tiếp cận trợ giúp pháp lý

   Hướng tới mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi cho người được TGPL dễ dàng tiếp cận với dịch vụ TGPL,theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Trợ giúp pháp lý thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bố trí nơi tiếp người được trợ giúp pháp lý tại trụ sở của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc địa điểm khác ngoài trụ sở của tổ chức bảo đảm điều kiện để việc trình bày yêu cầu được dễ dàng, thuận lợi.

   Khoản 1 Điều 12 Thông tư số 12/2018/TT-BTP quy định “Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm bố trí địa điểm thuận lợi cho người được trợ giúp pháp lý tiếp cận và trình bày yêu cầu trợ giúp pháp lý. Trong trường hợp nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý cần được giữ bí mật thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bố trí địa điểm phù hợp”.

   Các quy định trên đây là cơ sở pháp lý để các tổ chức thực hiện TGPL bố trí nơi tiếp phù hợp đối với trẻ em. Đối với các tổ chức có trụ sở rộng có thể bố trí 01 phòng làm việc riêng tại tầng 1 để tiếp trẻ em. Việc này vừa tạo cảm giác an toàn cho trẻ em, vừa bảo đảm bảo mật sự riêng tư, đặc biệt có ý nghĩa rất lớn trong những vụ việc người được trợ giúp pháp lý là trẻ em bị xâm hại.

5. Sự phối hợp với các cơ quan liên quan trong trợ giúp pháp lý cho người chưa thành niên

   Về cơ sở pháp lý: Luật Trợ giúp pháp lý 2017 (TGPL) và các văn bản hướng dẫn thi hành có một số quy định nhằm tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức đối với hoạt động TGPL, cụ thể:

   - Về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng: Luật TGPL quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp tạo điều kiện cho người được TGPL được hưởng quyền TGPL, tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.  Khoản 3 Điều 31 Luật TGPL quy định trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của bị can, bị cáo, người bị hại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại địa phương. Quy định này cụ thể hơn về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng đã được ghi nhận tại Điều 75 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đồng thời bảo đảm để Trung tâm TGPL nhà nước cử người thực hiện TGPL kịp thời trong thời hạn tạm giữ, tạm gia theo quy định.

>> Xem thêm:  Quan hệ với trẻ em từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi có phạm tội không ?

   Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC quy định về phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng ngày 21/6/2018 đã cụ thể trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ, trại tạm giam, người có thẩm quyền trong cơ sở giam giữ, trại tạm giam trong việc thông báo, thông tin, giải thích quyền được TGPL, chuyển yêu cầu TGPL,…

   - Điều 42 Luật TGPL quy định trong quá trình thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình nếu phát hiện công dân thuộc diện được TGPL, cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải thích quyền được TGPL và giới thiệu đến tổ chức thực hiện TGPL.

   Có thể khẳng định những quy định nêu trên đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để bảo đảm trẻ em nói riêng và người được TGPL nói chung được thụ hưởng dịch vụ TGPL kịp thời.

6. Bảo vệ tối đa quyền lợi cho trẻ em 

   Do đặc thù hoạt động TGPL mang tính chất xã hội, giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, mang đến công lý cho người nghèo, người yếu thế mà không mang tính lợi nhuận, do vậy, đa số người thực hiện TGPL đều thực hiện công việc này với sự nhiệt tâm, yêu nghề. Do đó, tạo lập được mối quan hệ phối hợp tốt với các cơ quan có liên quan (đặc biệt là cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan liên quan công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em), qua đó các cơ quan đều có sự tin tưởng, sự thiện cảm và tạo điều kiện để các Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện vụ việc. Nhiều vụ việc TGPL cho trẻ em đã thành công, qua đó kịp thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho trẻ em.