1. Nguyên tắc xử lý người phạm tội là gì?

Xin chào công ty luật Minh Khuê. Tôi là Minh, ở Tiền Giang. Nay tôi gặp một vấn đề và mong được Quý công ty giải đáp như sau :

Ngày 5/4, có một nhóm người lạ mặt tấn công, đe dọa con tôi trong nhà riêng bằng giáo, mác, ngay sau đó tôi đã gọi điện mời công an khu vực đến can thiệp. Tuy nhiên, phải 3 tiếng sau công an mới đến, các đối tượng kia cũng đã bỏ về. Khi công an đến, họ nói với tôi là không ghi nhận được cuộc tấn công, nhà tôi không có camera làm chứng. Họ bảo rằng lần sau các đối tượng kia lại đến tiếp thì họ đến xử lý sau, con tôi cũng chưa có thương tật gì nặng. Tôi rất bức xúc vì cách làm việc chậm chễ của họ, từ đồn công an đến nhà tôi chưa đến 2km. Vậy cho tôi hỏi nguyên tắc xử lý hành vi phạm tội là gì, có phải là nhanh chóng, kịp thời không ?

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến bộ phận hỗ trợ khách hàng của Công ty chúng tôi. Trường hợp của bạn chúng tôi xin giải đáp như sau :

Theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành, nguyên tắc xử lý hành vi phạm tội đối với người phạm tội như sau :

Điều 3. Nguyên tắc xử lý

1. Đối với người phạm tội:

a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;

c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;

đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;

e) Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;

g) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.

Như vậy, có thể thấy phát hiện tội phạm nhanh chóng, kịp thời là nguyên tắc cơ bản để xử lý người phạm tội..

Nguyên tắc “nhanh chóng, kịp thời” này có các nội dung sau:

​- Phát hiện kịp thời: Phát hiện tội phạm kịp thời không chỉ ngăn ngừa được sớm khả năng tái diễn của tội phạm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra tội phạm mà còn góp phần tạo dựng môi trường pháp lý nghiêm minh và qua đó tăng tính răn đe, giáo dục. Nhiệm vụ phát hiện kịp thời được đặt ra không chỉ cho các cơ quan bảo vệ pháp luật mà cho tất cả các cơ quan, đơn vị, tổ chức cũng như mọi cá nhân. Phát hiện kịp thời tội phạm bao gồm phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, phát hiện người thực hiện hành vi đó cũng như phát hiện dấu hiệu về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại vì có liên quan với hành vi và người thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội phạm.

​- Xử lý nhanh chóng: Xử lý tội phạm nhanh chóng bao gồm: Điều tra nhanh chóng, truy tố nhanh chóng, xét xử nhanh chóng. Các hoạt động này phải được hoàn tất nhanh nhất có thể trong thời hạn luật định. Điều này đòi hỏi không chỉ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà đòi hỏi ý thức trách nhiệm của các chủ thể tiến hành tố tụng hình sự thuộc các cơ quan điều tra, truy tố và xét xử.

Trong trường hợp của bạn, bên công an địa phương chậm chễ trong việc phát hiện hành vi phạm tội khi có tố giác từ công dân là hành vi trái với nguyên tắc của Bộ luật hình sự.

2. Nguyên tắc bình đẳng trong xử lý tội phạm được hiểu thế nào?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có một vấn đề thắc mắc như sau:

Chồng tôi và ba người nữa bị bắt vì tội đánh bạc. Chồng tôi là lái xe, còn ba người kia đều là người có địa vị xã hội. Tôi thấy ba người kia đã được thả về nhưng chồng tôi vẫn chưa có tin tức gì. Tôi thấy như vậy là không công bằng, tôi có khiếu nại được không?

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Bộ phận hỗ trợ khách hàng Công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi xin giải đáp như sau:

Trong nguyên tắc xử lý người phạm tội của Bộ luật hình sự hiện hành, nguyên tắc bình đẳng là nguyên tắc áp dụng cơ bản. Cụ thể:

Điều 3. Nguyên tắc xử lý

1. Đối với người phạm tội:

a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;

….

Theo đó, điểm b khoản 1 của điều luật xác định: Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật; việc xử lý tội phạm từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử đều không bị chi phối bởi giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội của người phạm tội.

Vì vậy, khi áp dụng quy định của pháp luật hình sự nói chung, sẽ không có chuyện được ưu tiên bởi địa vị xã hội của người phạm tội. Trường hợp này, bạn nên tìm hiểm rõ nguyên do vấn đề. Có thể sau khi điều tra, những người còn lại không có dấu hiệu phạm tội hình sự, hoặc gia đình họ đã thực hiện thủ tục bảo lĩnh cho tại ngoại. Trước khi tìm hiểu rõ vấn đề, bạn không nên vội vàng khiếu nại bất cứ ai, bởi viêc đó có thể mang lại rủi ro pháp lý cho bạn.

3. Nguyên tắc phân hóa trong xử lý tội phạm được hiểu thế nào?

Xin chào Luật sư. Tôi có vấn đề cần được hỗ trợ như sau: Em tôi có tham gia tụ tập và ẩu đả với người khác, gây thương tích cho 2 nạn nhân đang cấp cứu trong bệnh viện, chưa rõ tình hình. Em tôi chỉ bị rủ rê đi cùng chứ cũng không có mâu thuẫn với ai cả, vậy em tôi phải chịu trách nhiệm đến đâu.

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Công ty chúng tôi. Về vấn đề này, chúng tôi xin giải đáp như sau:

Như bạn trình bày, em bạn chỉ là được người khác rủ rê, không có chủ đích tham gia gây thương tích cho người khác. Vì vậy, mức độ phạm tội của em bạn sẽ giảm nhẹ hơn so với những người chủ mưu tham gia vào sự việc này. Đây là nguyên tắc phân hóa trong xử lý tội phạm quy định tại Điều 3 của Bộ luật hình sự hiện hành.

Điều 3. Nguyên tắc xử lý

1. Đối với người phạm tội:

a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;

c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;

đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;

e) Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;

g) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.

2. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội:

a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;

c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

d) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.

Thể hiện nguyên tắc này, khoản 1 và khoản 2 của điều luật đã xác định các đối tượng cần nghiêm trị và các đối tượng cần khoan hồng.

Theo điểm c khoản 1 của điều luật, những người phạm tội cần nghiêm trị là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, là người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội.

Những trường hợp cần bị nghiêm trị được nêu trên đây đều không có nghĩa việc nghiêm trị là vì đặc điểm riêng của người phạm tội mà vì tính nguy hiểm cao của tội phạm do bị ảnh hưởng của những đặc điểm riêng này. Cụ thể:

- Đặc điểm “chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy” thể hiện người phạm tội là người giữ vai trò nguy hiểm - vai trò tổ chức trong vụ phạm tội.

- Đặc điểm “ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm” thể hiện mức độ lỗi nghiêm trọng của người phạm tội.

- Đặc điểm “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” thể hiện mức độ nguy hiểm cao của hành vi phạm tội do thủ đoạn phạm tội.

Theo điểm d khoản 1 của điều luật, những người phạm tội cần nghiêm trị còn là những người dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Đây đều là những trường hợp có tính nguy hiểm cao do thủ đoạn phạm tội, do hình thức phạm tội hoặc do hậu quả của tội phạm. Cũng theo điều này, người phạm tội được khoan hồng là người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra cũng như là người tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trĩnh giải quyết vụ án.

Đây là những trường hợp cần khuyến khích vì đều thể hiện thái độ tích cực của người phạm tội sau khi phạm tội. Việc áp dụng trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt đối với người phạm tội cũng chỉ nhằm mục đích cuối cùng là giáo dục người phạm tội. Do vậy, thái độ tích cực của người phạm tội qua các biểu hiện cụ thể được liệt kê trên hoàn toàn phù hợp với mục đích của hình phạt cũng như mục đích của trách nhiệm hình sự nói chung. Khi chưa bị áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự mà người phạm tội đã có sự thay đổi như đích hướng tới của trách nhiệm hình sự thì việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ để thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước là điều hoàn toàn hợp lý và cần thiết. Thái độ tích cực của người phạm tội như vậy cho phép tin tưởng khả năng giáo dục của họ. Việc khoan hồng vừa tạo động lực khuyển khích người phạm tội có thái độ tích cực vừa là sự ghi nhận của Nhà nước đối với cố gắng của họ. Trong các biểu hiện của thái độ tích cực nêu trên, biểu hiện “tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trĩnh giải quyết vụ án ” là biểu hiện mới được bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015.

Như vậy, trách nhiệm pháp lý áp dụng cho hành vi của em bạn mức độ nặng nhẹ thế nào căn cứ vào rất nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố được xác định trên nguyên tắc phân hóa tội phạm (chủ mưu hay giúp sức, thành khẩn khai báo hay ngoan cố,….).

4. Nguyên tắc nhân đạo trong xử lý tội phạm của Bộ luật hình sự

Nguyên tắc nhân đạo được thể hiện ở nhiều điều luật khác nhau của Bộ luật hình sự. Riêng tại Điều 3, nguyên tắc này được thể hiện ở 3 nội dung có tính định hướng sau:

- Hạn chế hình phạt tù: “Đổi với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thế áp dụng hình phạt nhẹ hơn hĩnh phạt tù ...”;

- Giảm thiểu thời gian phải chấp hành hình phạt tù: "... nếu họ có đủ điều kiệnthì có thề được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện

- “ Người đã chấp hành xong hình phạt..., khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích ”.

Nội dung có tính định hướng trên đây đã được thể hiện trong các quy định về các hình phạt không tước quyền tự do tại các Điều 34, 35, 36 Bộ luật này cũng như trong chế định giảm mức hình phạt đã tuyên (Điều 63, Điều 64) và chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66).

Ngoài 3 nội dung có tính định hướng và đã được cụ thể hóa trong các điều luật, điểm g khoản 1 của điều luật còn xác định “Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng...”. Nội dung có tính định hướng này tuy thể hiện nguyên tắc nhân đạo nhưng lại vượt ra ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật hình sự nên không thể được cụ thể hóa trong điều luật của Bộ luật hình sự.

Khi áp dụng Bộ luật hình sự, các cơ quan không những phải tuân thủ các điều luật đã cụ thể hóa nguyên tắc xử lý được quy định tại Điều 3 mà cần phải chú ý cả nội dung có tính định hướng chung trong điều luật này.

Điều 3 là điều luật về nguyên tắc xử lý nhưng nội dung lại chưa được khái quát nên có phần chưa phù hợp với tên gọi của điều luật và dễ dẫn đến có sự không thống nhất giữa điều luật này với các điều luật cụ thể hóa nguyên tắc xử lý.

Với việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, Điều 3 của Bộ luật hình sự bổ sung khoản 2 quy định về nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. về nội dung, khoản này được giải thích cùng với giải thích về nội dung của nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội.

5. Vai trò của nguyên tắc xử lý tội phạm trong Bộ luật hình sự

Có thể thấy, nguyên tắc xử lý được quy định tại Điều 3 Bộ luật hình sự hiện hành có vai trò định hướng, là hệ quy chiếu chung để áp dụng các điều luật khác Bộ luật hình sự.

Khi trách nhiệm hình sự được xác định đúng cho từng chủ thể phạm tội, chức năng giáo dục của Luật hình sự mới có thể thành hiện thực. Hình phạt áp dụng cho chủ thể phạm tội phải tương xứng với mức độ gây nguyên hiểm cho xã hội của tội phạm gây ra và phải phù hợp với nhân thân cũng như hoàn cảnh của chủ thể phạm tội.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh KHuê