1. Khái niệm

Vi phạm pháp luật đất đai là những hành vi trái với quy định của pháp luật. Những hành vi này do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Và nó xâm phạm vào các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực đất đai, gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Xử lí vi phạm pháp luật đất đai là việc áp dụng các hình thức trách nhiệm pháp lí đối với người vi phạm nhằm buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do hành vi và hậu quả của hành vi vi phạm gây ra. 

2. Đặc điểm các hành vi vi phạm pháp luật đất đai

Theo khái niệm, hành vi vi phạm pháp luật đất đai mang những đặc điểm sau:

- Có hành vi trái pháp luật: Những hành vi trái pháp luật này có thể là hành vi thực hiện hoặc thực hiện không đúng những quy định của pháp luật đất đai, nó xâm phạm tới các khách thể được pháp luật bảo vệ. Hành vi không thực hiện ví dụ như: sử dụng đất đai không đúng mục đích được giao; không áp dụng các biện pháp cải tạo, bồi dưỡng đất đai… hoặc thực hiện không đúng những quy định của pháp luật đất đai như giao đất vượt quá giới hạn mức, chuyển nhượng đất trái phép…

- Yếu tố lỗi: Lỗi có thể là cố ý hoặc vô ý, thể hiện nhận thức của người vi phạm đối với hành vi và hậu quả của hành vi do họ gây ra. Vì thế sẽ không bị coi là có lỗi nếu người đó không nhận thức được hành vi hành vi của mình. Như vậy, để biết được một hành vi có vi phạm pháp luật đất đai hay không thì ta phải căn cứ vào các dấu hiệu, đặc điểm của của hành vi vi phạm pháp luật đất đai.

- Các hành vi vi phạm pháp luật đất đai được quy định cụ thể tại:

•   Điều 12 LĐĐ 2013

•    Điều 97 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP 3. Vai trò nhận diện các hành vi vi phạm pháp luật đất đai và vấn đề xử lý vi phạm Nhận diện và xử lý vi phạm pháp luật đất đai là nhằm ngăn ngừa và trừng phạt những hành vi vi phạm pháp luật đất đai đồng thời giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, bảo vệ những quan hệ, những giá trị được pháp luật ghi nhận. Đó cũng là vấn đề có tính quyết định để duy trì trật tự, kỉ cương và nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lí đấ

3. Các loại vi phạm hành chính trong sử dụng đất

3.1. Hành vi sử dụng đất không đúng mục đích

Việc đưa đất thuộc quyền sử dụng của mình vào sử dụng trái với mục đích SDĐ đã được ghi trong giấy chứng nhận hoặc quyết định giao, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được xem là hành vi sử dụng đất không đúng với mục đích.

Từ điều 9 đến điều 12 nghị định 91/2019/ND-CP gồm:

  • Chuyển mục đích SDĐ trồng lúa không được cq nn có thẩm quyền cho phép
  • Chuyển mục đích SDĐ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất mà ko đc CQNN có thẩm quyền cho phép.
  • Chuyển mục đích SDĐ nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép
  • Chuyển mục đích SDĐ phi nông nghiệp sang mục đích khác trong nhóm đất phi nông nghiệp mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

3.2. Vi phạm về ranh giới, địa giới hành chính

  • Điều 14, Nghị định 91/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt VPHC đối với hành vi lấn, chiếm đất.
  • Điều 12 Luật Đất đai 2013 quy định rõ hành vi lấn, chiếm hoặc hủy hoại đất đai là hành vi bị nghiêm cấm.
  • Khoản 3 Điều 3 Nghị định 91/2019/NĐ-CP, hủy hoại đất là hành vi làm biến dạng địa hình hoặc làm suy giảm chất lượng đất hoặc gây ô nhiễm đất mà làm mất hoặc giảm khả năng SDĐ theo mục đích đã được xác định.

Hành vi vi phạm liên quan đến nghĩa vụ bồi bổ, cải tạo, bảo vệ đất

  • Khoản 6, Điều 170 Luật Đất đai 2013 quy định các nghĩa vụ chung của người SDĐ, yêu cầu người SDĐ phải “Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người SDĐ có liên quan”.
  • Điều 16 Nghị định 91/2019/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính đối với: Hành vi gây cản trở cho việc SDĐ của người khác, bao gồm các hành vi: đưa chất thải, chất độc hại, vật liệu xây dựng hoặc các vật khác lên thửa đất của người khác hoặc thửa đất của mình gây cản trở cho việc SDĐ của người khác; đào bới, xây tường, làm hàng rào gây cản trở hoặc gây thiệt hại cho việc SDĐ của người khác.

3.3. Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong sử dụng đất

  • Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong việc xử phạt vi phạm hành chính

Thứ nhất, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 5.000.000 đồng; (iii) Tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung; giấy tờ giả đã sử dụng trong việc sử dụng đất; (iv) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm

Thứ hai, Chủ tịch UBND cấp huyện có quyền: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng; (iii)) Tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung; giấy tờ giả đã sử dụng trong việc SDĐ; (iv) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực đất đai có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực đất đai có thời hạn; (v) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm 17 biện pháp tại Khoản 3 Điều 5. Có thể thấy thẩm quyền của Thứ ba, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có các thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện, tuy nhiên có quyền Phạt tiền đến 500.000.000 đồng.

  • Thẩm quyền của thanh tra chuyên ngành đất đai trong việc xử phạt vi phạm hành chính

Thứ nhất, Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ có quyền: (i)Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 500.000 đồng; (iii) Tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung; giấy tờ giả đã sử dụng trong việc SDĐ; (iv) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm.

Thứ hai, Chánh Thanh tra Sở, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành do Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai, Giám đốc Sở, Chánh Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra có thẩm quyền giống với Chủ tịch UBND cấp huyện.

Thứ ba, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp Bộ có thẩm quyền tương tự Chánh Thanh tra Sở, ngoại trừ có quyền Phạt tiền đến 250.000.000 đồng; và Tịch thu các tang vật, phương tiện VPHC không vượt quá mức tiền phạt là 250.000.000 đồng.

Thứ tư, Chánh Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai có tương tự Chánh Thanh tra Sở, ngoại trừ có quyền Phạt tiền đến 500.000.000 đồng; và Tịch thu các tang vật, phương tiện VPHC không phụ thuộc vào giá trị của tang vật và phương tiện VPHC.

  • Thẩm quyền xử phạt VPHC của các cơ quan khác Ngoài Chủ tịch UBND các cấp, thanh tra chuyên ngành đất đai: thẩm quyền của Thanh tra xây dựng, Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Bộ công an khi phát hiện các hành vi VPHC trong SDĐ thuộc quản lý của ngành mình thì cũng có quyền xử phạt, cụ thể: Thanh tra xây dựng có thẩm quyền xử phạt VPHC đối với các hành vi không nộp hồ sơ, không cung cấp, cung cấp không đầy đủ giấy tờ để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người mua, thuê mua nhà, công trình xây dựng, nhận chuyển quyền SDĐ tại dự án kinh doanh bất động sản. Thanh tra Bộ Quốc phòng có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi VPHC trong SDĐ quốc phòng. Thanh tra Bộ Công an có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi VPHC trong SDĐ an ninh.

4. Ví dụ

Nhận diện và xử lí vi phạm pháp luật về đất đai là nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có những cá nhân đại diện cho nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước nhưng còn thiếu trách nhiệm, thiếu năng lực chuyên môn. Do vậy, dễ dẫn đến những sai phạm, ban hành pháp luật chồng chéo, đưa ra những quyết định thiếu căn cứ.

Sau đây là một ví dụ về vụ án giữa công ty cổ phần T và UBND tỉnh Phú Yên, chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên, Chủ tịch UBND thành phố T- tỉnh Phú Yên. Theo đó, ngày 29/3/2010, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 426/QĐ-UBND V/v Thu hồi đất của Công ty Cổ phần Đầu tư và Du lịch Thuận T và cho Công ty Cổ phần T thuê; Ngày 12/7/2010, Công ty Cổ phần T ký hợp đồng thuê đất với Sở Tài nguyên và Môi trường, hợp đồng thuê đất số 742/HĐTĐ. Thời gian thuê 50 năm, đến hết ngày 26/5/2058, giá thuê 8.400 đồng/m2/năm. Khu đất có diện tích 79.419,4m2 theo hợp đồng thuê đất, Công ty không có nợ tiền thuê đất mặc dù dự án chưa được xây dựng đưa vào kinh doanh.

Sau khi nhận đất bàn giao trên thực địa, Công ty Cổ phần T đã từng bước tiến hành đầu tư, tuy nhiên quá trình đầu tư chưa thực hiện đúng thời hạn cam kết. Qua quá trình kiểm tra, Sở Tài nguyên và Môi trường ra kết luận: Công ty Cổ phần T chậm đưa đất vào sử dụng đất và sử dụng đất chậm tiến độ ghi trong dự án đầu tư (đối với Khu I với diện tích 79.413,4m2) kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa là không đúng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai 2013). Tuy nhiên, đã được UBND tỉnh gia hạn thời gian hoàn thiện dự án đến tháng 12 năm 2015 tại Thông báo số 326/TB-UBND ngày 17/5/2012. Đề nghị Công ty liên hệ Sở Tài nguyên và Môi trường để được hướng dẫn lập thủ tục gia hạn đưa đất vào sử dụng, thời gian thực hiện đến hết năm 2014. Nhưng Công ty không thực hiện.

Ngày 28/02/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên ban hành Quyết định số 399/QĐ-UBND “Về việc thu hồi một phần diện tích dự án Khu Resort T của Công ty Cổ phần T và giao cho Trung tâm phát triển quỹ đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường quản lý” với lý do “Việc chậm triển khai dự án và chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính.” Ngày 28/5/2018, UBND thành phố T ban hành Quyết định số 2280/QĐ- UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất 79.419,4m2 đất của Công ty Cổ phần T đang sử dụng tại Phường 7, thành phố T.

Nhận xét:

Việc Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên ban hành Quyết định số 399/QĐ- UBND ngày 28/2/2017 về việc thu hồi một phần diện tích đất dự án Khu Resort T hoàn toàn không được quy định tại Điều 64 của Luật Đất đai cũng như bất cứ điều nào trong Luật Đất đai.

UBND thành phố T ban hành Quyết định số 2280/QĐ-UBND ngày 28/5/2018 về việc cưỡng chế thu hồi đất là không đúng quy định pháp luật. Căn cứ vào điều 71 Luật đất đai 2013 quy định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất nhưng Quyết định 2280/QĐ-UBND ngày 28/5/2018 của UBND thành phố T không đề cập đến việc xử lý tài sản của Chủ đầu tư đã đầu tư vào đất. Trong khi dự án Khu Resort T đã được Công ty đầu tư các hạng mục theo Giấy phép xây dựng số 10/GPXD ngày 03/10/2008 do Sở Xây dựng tỉnh Phú Yên cấp như: Hệ thống hàng rào bảo vệ xung quanh khu đất, vỉa hè đường T, L, N1, Đ, san lấp mặt bằng, Văn phòng làm việc, Nhà kho, các chi phí đền bù giải phóng mặt bằng tái định cư khi thực hiện dự án theo phương án phê duyệt, hệ thống điện chiếu sáng xung quanh khu đất dự án, hệ thống nước sinh hoạt phục vụ dự án, các hạng mục phụ trợ khác cấp thiết cho dự án mà chủ đầu tư đã triển khai thực hiện thực tế cần phải xác định và chi phí lập hồ sơ pháp lý dự án, hồ sơ thiết kế xây dựng, hồ sơ quy hoạch 1/500. Căn cứ Điều 71 Luật đất đai năm 2013, khoản 1 Điều 70 của Luật đất đai năm 2013 “Ban thực hiện cưỡng chế có quyền buộc người bị cưỡng chế và những người khác có liên quan phải ra khỏi khu đất cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế; nếu không thực hiện thì Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế và người có liên quan cùng tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế. Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải lập biên bản, tổ chức thực hiện bảo quản tài sản theo quy định và thông báo cho người có tài sản nhận lại”. Tuy nhiên, Chủ tịch UBND thành phố T tiến hành cưỡng chế không đúng theo quy định nêu trên.