1. Căn cứ để thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội?

Luật sư xin cho tôi biết: Xin cho biết các căn cứ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng ? Theo quy định của pháp luật, những trường hợp nào Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất và việc thu hồi dựa trên những căn cứ nào ?
Xin cám ơn !

>> Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai về đất quốc phòng, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, các căn cứ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng được Luật đất đai quy định như sau:

Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng dựa trên các căn cứ được quy định tại Điều 63 Luật đất đai năm 2013 như sau:

1. Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật đất đai năm 2013 (xem câu 16, 17)

2. Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

3. Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án.

Thứ hai, theo quy định của pháp luật, những trường hợp Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất và việc thu hồi dựa trên những căn cứ dưới đây:

1. Khoản 1 Điều 64 Luật đất đai năm 2013 quy định các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:

a) Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

b) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

c) Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

d) Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

đ) Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

e) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

g) Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

h) Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;

i) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

- Các trường hợp bất khả kháng ảnh hưởng đến tiến độ sử dụng đất của dự án đầu tư đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất được quy định rõ tại Điều 15 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai gồm:

+ Do ảnh hưởng trực tiếp của thiên tai, thảm họa môi trường;

+ Do ảnh hưởng trực tiếp của hỏa hoạn, dịch bệnh;

+ Do ảnh hưởng trực tiếp của chiến tranh;

+ Các trường hợp bất khả kháng khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

- Thời điểm để tính gia hạn 24 tháng đối với trường hợp không đưa đất vào sử dụng hoặc tiến độ sử dụng đất chậm được quy định tại Điều 15 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP như sau:

+ Trường hợp dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa thì cho phép chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng tính từ tháng thứ 13 kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa;

+ Trường hợp dự án đầu tư chậm tiến độ sử dụng đất 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa thì thời điểm để tính gia hạn sử dụng đất 24 tháng được tính từ tháng thứ 25 kể từ thời điểm phải kết thúc việc đầu tư xây dựng. Trường hợp dự án được giao đất, cho thuê đất theo tiến độ thì việc gia hạn sử dụng đất 24 tháng được áp dụng đối với từng phần diện tích đất đó; thời điểm để tính gia hạn sử dụng đất 24 tháng được tính từ tháng thứ 25 kể từ thời điểm phải kết thúc việc đầu tư xây dựng trên phần diện tích đất đó.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức rà soát, xử lý và công bố công khai trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc chậm tiến độ sử dụng đất 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư; các dự án được gia hạn; các dự án chậm tiến độ sử dụng đất vì lý do bất khả kháng; cung cấp thông tin để công khai trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Tổng cục Quản lý đất đai.

2. Khoản 2 Điều 64 Luật đất đai năm 2013 quy định việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.

>> Xem thêm:  Cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất ? Hướng dẫn chính sách đền bù khi bị thu hồi đất đai ?

2. Thẩm quyền cưỡng chế thu hồi đất?

Thưa Luật sư! Chúng tôi là gồm 37 hộ chăn nuôi heo ở Vĩnh Lộc A, từ miền trung vô đây đã gần 10 năm mà tới 2 năm gần đây thì xã đòi đuổi cưỡng chế về việc bảo chúng tôi lấn chiếm đất nhà nước, xây trại trái phép trên đất nông nghiệp. Hai năm trước, xã bắt chúng tôi kí văn bản chấp nhận di dời mới chịu làm giấy tạm trú cho con em chúng tôi đi học, vì vậy chúng tôi phải bắt buộc kí.
Hàng năm, chúng tôi vẫn đóng tiền đất cho ông chủ đất theo hợp đồng chứ chúng tôi đâu ở miễn phí đâu vậy mà giờ vô cưỡng chế. Chúng tôi đòi hỗ trợ di dời còn không thì cho ở het hợp đồng là thêm 3 năm nữa mà xã chỉ hỏi ý kiến chứ chưa có biện pháp gì hỗ trợ. Xin hỏi việc cưỡng chế của xã đúng hay sai?
Xin chân thành cảm ơn !

Căn cứ để thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng và vì vi phạm pháp luật về đất đai ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.6162.

Trả lời:

Điều 66 Luật đất đai 2013 quy định như sau:

"Điều 66. Thẩm quyền thu hồi đất

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

3. Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất."

Như vậy, chỉ có ủy ban nhân dân cấp tỉnh và ủy ban nhân dân cấp huyện mới có thẩm quyền thu hồi đất, trong trường hợp của bạn, ủy ban nhân dân cấp xã không có thẩm quyền thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất như vậy. Việc cưỡng chế của ủy ban nhân dân xã là không đúng

>> Xem thêm:  Thời hạn của loại đất quy định trong bảng giá đất ? Quy định về mua bán các loại đất

3. Điều kiện được hưởng hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp?

Luật sư tư vấn:

Căn cứ Khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự 2015 quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật như sau:

"....1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản....."

Như vậy, nếu ông A mất không có di chúc để lại thì sẽ tiến hành chia thừa kế theo pháp luật. Chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Như vậy, di sản thừa kế là 1.400 m2 đất sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, bao gồm, bố mẹ đẻ, vợ và 2 con đẻ. Tuy nhiên trong trường hợp này, những người nằm trong hàng thừa kế thứ nhất đều từ chối nhận di sản thừa kế. Theo quy định tại Khoản 3, Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 : ''Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.'' Trong trường hợp này,hàng thừa kế thứ nhất đã từ chối nhận di sản thừa kế thì em của ông A thuộc hàng thừa kế thứ 2 sẽ được hưởng di sản thừa kế do những người thừa kế thứ nhất từ chối nhận di sản thừa kế và nhường cho em của ông A.

Nếu những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất từ chối nhận di sản thừa kế, thì em của ông A sẽ được hưởng phần di sản thừa kế này. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ thực hiện thủ tục từ chối nhận di sản thừa kế theo quy định tại Điều 620 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Điều 620. Từ chối nhận di sản

1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.

3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.

Thủ tục làm văn bản từ chối nhận di sản thừa kế như sau:

+) Hồ sơ của 4 người trong hàng thừa kế thứ nhất:

- Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu (bản chính kèm bản sao) của từng người;

- Hộ khẩu (bản chính kèm bản sao);

- Giấy khai sinh, Giấy xác nhận con nuôi (nếu có); sơ yếu lý lịch, các giấy tờ khác (bản chính kèm bản sao) chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người thừa kế.

+) Hồ sơ của ông A:

- Giấy chứng tử (bản chính kèm bản sao) của người để lại di sản, giấy báo tử, bản án tuyên bố đã chết (bản chính kèm bản sao);

- Giấy đăng ký kết hôn, giấy xác nhận hôn nhân thực tế (bản chính kèm bản sao).

- Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản của người để lại di sản thừa kế: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 1.400 mét vuông đất nông nghiệp.

Nơi thực hiện thủ tục: Văn phòng công chứng/Phòng công chứng Nhà nước.

Sau khi công chứng văn bản từ chối nhận di sản thừa kế, em của ông A thực hiện thủ tục chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp theo quy định tại Khoản 2, Điều 9 Thông tư 24/2014-TT-BTNMT như sau:

Hồ sơ gồm:

- Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế.

- Bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Bản sao giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của em ông A.

Nơi thực hiện thủ tục hành chính: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở tài nguyên môi trường.

Về vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp: Căn cứ Khoản 1 Điều 19 Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất như sau:

''a) Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp khi thực hiện Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp; Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và bổ sung việc giao đất làm muối cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; giao đất lâm nghiệp khi thực hiện Nghị định số 02/CP ngày 15 tháng 01 năm 1994 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;

b) Nhân khẩu nông nghiệp trong hộ gia đình quy định tại Điểm a Khoản này nhưng phát sinh sau thời điểm giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình đó;

c) Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp theo quy định tại Điểm a Khoản này nhưng chưa được giao đất nông nghiệp và đang sử dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho, khai hoang theo quy định của pháp luật, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi xác nhận là đang trực tiếp sản xuất trên đất nông nghiệp đó;

d) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó;''

Nếu em trai ông A được hưởng hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề thì em trai ông A phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 3 Quyết định 63/2015/QĐ-TTg như sau:

''Người lao động bị thu hồi đất được hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Có nhu cầu đào tạo nghề, giải quyết việc làm;

2. Trong độ tuổi lao động.''

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Tư vấn cách tính thuế xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật

4. Người dân có thể khởi kiện quyết định thu hồi đất không ?

"Dân kiện Quan từ xưa đã được ví von như "con kiến mà kiện củ khoai". Chúng tôi xin đăng toàn văn Quyết định Giám đốc thẩm của TANDTC về một vụ việc khiếu kiện tại tỉnh Bắc Giang.

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 04/2006/HC-GĐT
NGÀY 09-11-2006 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HÀNH CHÍNH “KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH THU HỒI VÀ HUỶ
GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT”

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

...

Ngày 09 tháng 11 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án hành chính giữa các đương sự:

Người khởi kiện:

1. Bà Đỗ Thị Râm, sinh năm 1953;

2. Chị Vi Thị Thuyết, sinh năm 1984;

3. Anh Vi Văn Soái, sinh năm 1986,

Cùng trú tại tiểu khu 1, thị trấn An Châu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

Bà Đỗ Thị Râm, chị Vi Thị Thuyết và anh Vi Văn Soái cùng uỷ quyền cho:

1. Ông Vi Đức Lập, sinh năm 1942; trú tại thôn Thượng, xã An Châu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang;

2. Ông Phạm Chí Công, sinh năm 1979; trú tại số 181 phố Chợ Mát, phường Thanh Bình, thành phố Hải Dương, tạm trú tại số 148 đường Trần Duy Hưng, phường Trung Hoà, quận Cầu Giấy, Hà Nội;

Người bị kiện: Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

NHẬN THẤY:

Ngày 7-11-1983, đại diện Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động, Uỷ ban nhân dân xã An Châu, đại diện chính quyền khối phố và Trưởng Bến xe khách Sơn Động lập Văn bản tạm cắt đất làm quán trong khu vực bến xe cho một số hộ gia đình trong đó có hộ ông Vi Xuân Trường - diện tích mỗi quán là 9m2 (3m ´ 3m); các hộ phải chấp hành các quy định: đóng lệ phí cho bến xe, khi địa phương bố trí hay có phương án quy hoạch vào địa điểm mới cũng như bến xe có thay đổi thì các hộ phải di chuyển theo sự hướng dẫn của bến xe và địa phương.

Năm 1998, khi tiến hành lập bản đồ địa chính, đơn vị đo đạc đã đo và đưa diện tích nhà quản lý bến xe vào diện tích quán của ông Vi Xuân Trường.

Ông Nguyễn Đức Thuần là Bí thư Chi bộ đã ký thay ông Vi Xuân Trường tại hồ sơ kỹ thuật thửa đất lập tháng 12-1998 với diện tích đất ở là 134,1m2 thuộc thửa số 4 tờ bản đồ địa chính số 11 khu 1, thị trấn An Châu và Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đứng tên ông Vi Xuân Trường và bà Nguyễn Thị Râm ngày 10-4-1999 với diện tích sử dụng 134,1m2.

Tại Biên bản xét duyệt ngày 27-4-1999, Hội đồng đăng ký đất đã xét duyệt 780 hộ gia đình có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có hộ gia đình ông Vi Xuân Trường.

Ngày 28-12-1999, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00086 QSDĐ/QĐ 1732/QĐ-CT cho ông Vi Xuân Trường, diện tích 134,1m2.

Ngày 06-12-2001, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang ra Quyết định số 1992/QĐ-CT duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất từ đất chuyên dùng sang đất khu dân cư tại khu vực ngã tư thị trấn An Châu, huyện Sơn Động với diện tích 1.381m2 (trong đó có diện tích đất gia đình ông Vi Xuân Trường đang sử dụng).

Ngày 14-12-2001, Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang có Thông báo số 86/TB-UB về việc thu hồi đất khu bến xe của ông Vi Xuân Trường (trong thông báo ghi là Vi Quốc Trường) với lý do: Khu đất bến xe trong đó có nhà ông Trường đang ở đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Bắc phê duyệt cấp cho Sở giao thông vận tải làm bến xe khách..., giấy tờ về đất của ông không đảm bảo tính pháp lý về quyền sử dụng đất lâu dài theo các văn bản hướng dẫn của Nhà nước về đất đai. Yêu cầu ông tự tháo dỡ quán và các công trình trên đất.

Ngày 22-4-2002, Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định số 310/QĐ-CT về việc phê duyệt giá đất bến xe cũ để tiến hành bán đấu giá quy hoạch khu dân cư. Các cơ quan chức năng của huyện Sơn Động đã tổ chức bán đấu giá, trong đó có diện tích đất ông Vi Xuân Trường. Gia đình ông Vi Xuân Trường không tham gia đấu giá.

Để đảm bảo cho gia đình ông Vi Xuân Trường có chỗ ở, ngày 13-6-2003, Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động ra Quyết định số 287/QĐ-UB về việc cấp đất ở cho ông Vi Xuân Trường, diện tích 88m2, địa điểm cạnh bến xe ô tô mới. Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động không thu tiền sử dụng đất đối với ông Vi Xuân Trường. Ông Vi Xuân Trường đã nhận đất và xây nhà.

Tại Báo cáo số 01/BC-TCT ngày 08-8-2003 của Tổ công tác Phòng địa chính xác định: lô đất hiện trạng gia đình ông Vi Xuân Trường đang sử dụng có diện tích 48,02m2; diện tích bến xe cũ có tổng diện tích là 1.381m2, trong đó có 134,1m2 đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vi Xuân Trường.

Ngày 08-9-2004, Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động có Tờ trình số 201/TT-UB trình Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang ra quyết định thu hồi, huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00086/QSDĐ ngày 28-12-1999 của ông Vi Xuân Trường, với nội dung: đơn vị đo đạc đã đưa toàn bộ nhà quản lý bến xe của huyện vào diện tích quán của ông Vi Xuân Trường làm thành thửa số 4, tờ bản đồ số 11, diện tích 134,1m2; về trình tự lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vi Xuân Trường là sai so với quy định của Luật đất đai và Thông tư số 346/TT-TCĐC ngày 16-3-1998 của Tổng cục địa chính, cụ thể: đây là đất chuyên dùng, ông Vi Xuân Trường không kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất do người khác ký, không có uỷ quyền của ông Vi Xuân Trường; Hội đồng cấp đất thị trấn An Châu không xét cấp đất cho ông Trường thửa số 4, tờ bản đồ số 11, khi tổng hợp danh sách đề nghị cấp trên phê duyệt do nhầm lẫn của cán bộ giúp việc nên đã đưa danh sách ông Trường vào số hộ đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Căn cứ Tờ trình số 201/TT-UB ngày 08-9-2004 của Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang có Tờ trình số 1351/TTr-TNMT-ĐKĐĐ ngày 14-9-2004 đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang thu hồi và huỷ bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Vi Xuân Trường.

Ngày 04-10-2004, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang ra Quyết định số 1549/QĐ-CT thu hồi và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số sêri Q691394 đã cấp cho hộ ông Vi Xuân Trường tại tiểu khu 1, thị trấn An Châu, huyện Sơn Động theo Quyết định số 1732/QĐ-CT ngày 28-12-1999 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang. Ông Vi Xuân Trường đã khiếu nại quyết định trên.

Ngày 24-02-2005, ông Vi Xuân Trường chết, gia đình ông Vi Xuân Trường dựng cột cây, lợp mái bằng tấm lợp trên diện tích 115,8m2 tại đất bến xe cũ. Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động đã thông báo nhiều lần yêu cầu hộ gia đình ông Vi Xuân Trường tự tháo dỡ, nhưng đến nay gia đình vẫn chưa tháo dỡ.

Ngày 27-5-2005, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang ra Quyết định số 934/QĐ-CT không chấp nhận đơn khiếu nại của ông Vi Xuân Trường;
giữ nguyên Quyết định số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Ngày 15-7-2005, bà Đỗ Thị Râm, chị Vi Thị Thuyết và anh Vi Văn Soái khởi kiện vụ án hành chính đề nghị Toà án huỷ Quyết định số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 01/HCST ngày 21-9-2005, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang quyết định: Bác yêu cầu khởi kiện của đại diện hợp pháp của ông Vi Xuân Trường về việc đề nghị huỷ bỏ Quyết định số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang; giữ nguyên Quyết định số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Ngày 28-9-2005, bà Đỗ Thị Râm, chị Vi Thị Thuyết và anh Vi Văn Soái có đơn kháng cáo đối với bản án hành chính sơ thẩm.

Tại bản án hành chính phúc thẩm số 17/2006/HCPT ngày 19-01-2006, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định: sửa bản án hành chính sơ thẩm số 01/HCST ngày 21-9-2005 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang; huỷ Quyết định số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Ngày 09-3-2006, Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động có đơn đề nghị Toà án nhân dân tối cao xem xét bản án hành chính phúc thẩm số 17/2006/HCPT ngày 19-01-2006 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

Ngày 30-3-2006, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang có Công văn số 552/UBND-TD đề nghị Toà án nhân dân tối cao kháng nghị bản án hành chính phúc thẩm số 17/2006/HCPT ngày 19-01-2006 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

Tại Kháng nghị số 03/KN-TK ngày 15-7-2006, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án hành chính phúc thẩm số 17/2006/HCPT ngày 19-01-2006 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xử huỷ bản án hành chính phúc thẩm nêu trên, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Tại Kết luận số 13/KL-AHC ngày 19-9-2006, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với Kháng nghị số 03/KN-TK ngày 15-7-2006 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ bản án hành chính phúc thẩm số 17/2006/HCPT ngày 19-01-2006 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội; giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 01/2005/HCST ngày 21-9-2005 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

XÉT THẤY:

Trong vụ án này, ông Vi Xuân Trường cùng vợ và các con ông Trường đều là thành viên trong hộ gia đình, cho nên đều có quyền tham gia tố tụng với tư cách là người khởi kiện.

Diện tích 134,1m2 đất ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00086 QSDĐ/QĐ cấp cho gia đình ông Vi Xuân Trường có nguồn gốc là đất chuyên dùng của bến xe khách huyện Sơn Động do chính quyền địa phương và ban quản lý bến xe cho hộ gia đình ông Vi Xuân Trường mượn tạm làm quán bán hàng. Khi đăng ký quyền sử dụng đất, ông Nguyễn Đức Thuần đã tự ký thay ông Vi Xuân Trường không có sự uỷ quyền. Khi đo đạc bản đồ địa chính năm 1998, đã đưa nhầm diện tích nhà quản lý bến xe vào diện tích quán của ông Vi Xuân Trường thành thửa đất số 4 tờ bản đồ số 11 đứng tên ông Vi Xuân Trường. Khi tổng hợp danh sách đề nghị cấp trên phê duyệt do nhầm lẫn của cán bộ giúp việc nên đã đưa danh sách ông Vi Xuân Trường vào số hộ đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vi Xuân Trường với diện tích là 134,1m2 đất tại bến xe Sơn Động cũ là không đúng quy định của Luật đất đai và Thông tư số 346/TT-ĐC ngày 16-3-1998 của Tổng cục địa chính.

Căn cứ vào nguồn gốc đất và trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động và Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ban hành Quyết định số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 thu hồi và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Vi Xuân Trường tại tiểu khu 1, thị trấn An Châu, huyện Sơn Động là có căn cứ, đúng pháp luật; đồng thời khi yêu cầu gia đình ông Vi Xuân Trường giao lại đất, Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động đã cấp cho gia đình ông Vi Xuân Trường diện tích 88m2 tại khu vực bến xe mới là hợp tình, hợp lý; gia đình ông Vi Xuân Trường đã nhận đất và làm nhà ở.

Khi xét xử sơ thẩm, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang quyết định bác yêu cầu đề nghị huỷ Quyết định số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang của người khởi kiện là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đúng với quy định của pháp luật. Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội khi xét xử phúc thẩm vụ án đã quyết định huỷ Quyết định
số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang về việc thu hồi và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Vi Xuân Trường là không có căn cứ và đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên; căn cứ vào khoản 2 Điều 72 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính,

QUYẾT ĐỊNH:

Huỷ bản án hành chính phúc thẩm số 17/2006/HCPT ngày19-01-2006 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội; giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 01/2005/HCST ngày 21-9-2005 của Toà án nhân dân tỉnh
Bắc Giang.

____________________________________________

- Lý do huỷ bản án phúc thẩm:

Việc Toà án cấp phúc thẩm quyết định huỷ quyết định thu hồi và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang là không có căn cứ.

- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ bản án phúc thẩm:

Thiếu sót trong việc đánh giá chứng cứ.

>> Xem thêm:  Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi gây thiệt hại về tinh thần thì sẽ phải bồi thường ra sao ?

5. Tư vấn trình tự khiếu kiện về việc bị thu hồi đất?

Gửi công ty Luật Minh Khuê! Gia đình tôi sinh sống tại 1 xã thuộc huyện V.L, tỉnh H.Y. Thời gian vừa qua, UBND xã liên tục đề nghị nhân dân chúng tôi đến lấy tiền bán đất ruộng vì họ nói rằng đất ruộng xã tôi thuộc diện quy hoạch đất công nghiệp nên phải bán. Nhân dân chúng tôi đã tuân thủ theo.
Tuy nhiên, còn 1 diện tích nhỏ gần khu dân cư ở, nhân dân làng tôi không muốn bán. Khi họ về họp ý dân, chúng tôi đã khẳng định là không bán. Đồng thời, diện tích này không thuộc đất quy hoạch vào đất công nghiệp. Nhưng từ cuối năm 2015 đến nay, họ tìm mọi cách (không công khai) để ép chúng tôi phải lấy tiền. Có người thì bị dọa gây khó khăn trong kinh doanh buôn bán, có người bị dọa không cho con vào biên chế nhà nước... Vì vậy, đến nay, chúng tôi chỉ còn 16 hộ dân chưa lấy tiền đất và quyết tâm bám đất để trồng cấy và tránh gây ô nhiễm cho dân sinh.
Tôi xin Luật Minh khuê tư vấn giúp tôi: việc chúng tôi không đồng ý bán đất là đúng hay sai? Dựa theo điều khoản nào của thông tư, nghị định, luật nào? Chúng tôi có thể làm gì để không phải bán đất? Và tư vấn quy trình cho chúng tôi nếu khởi kiện.
Xin cảm ơn!

Tư vấn trình tự khiếu kiện về việc bị thu hồi đất ?

Luật sư tư vấn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như thông tin mà bạn cung cấp việc thu hồi đất là để thực hiện dự án công nghiệp do đó, lý do thu hồi đất là để phát triển kinh tế-xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng. Theo quy định tại Điều 63 Luật Đất Đai 2013:

"Điều 63. Căn cứ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng phải dựa trên các căn cứ sau đây:

1. Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật này;

2. Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

3. Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án."

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 6 Luật Đất đai, việc sử dụng đất phải đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và mục đích sử dụng đất. Do đó, nếu đúng như thông tin mà bạn cung cấp, tức là khu đất nông nghiệp này nằm ngoài quy hoạch thì cơ quan Nhà nước không được phép thu hồi để phục vụ cho dự án công nghiệp. Hơn nữa, việc thu hồi đất của người dân không thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã, tại điều 66 Luật đất đai 2013:

"Điều 66. Thẩm quyền thu hồi đất

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

3. Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất".

Trong trường hợp UBND xã tiếp tục thông báo việc thu hồi đất ở khu đất này thì bạn có quyền khiếu kiện bằng một số hình thức như: khiếu nại hoặc khởi kiện về quyết định hành chính. Theo quy định tại Điều 204 Luật Đất đai 2013:

"Điều 204. Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai

1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính."

Theo quy định tại điều 7 Luật khiếu nại 2011 có quy định :

"Điều 7. Trình tự khiếu nại

1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính".

Như vậy, bạn có thể gửi đơn khiếu nại lần đầu đến UBND cấp xã nơi ra quyết định thu hồi đất, nếu không được gải quyết một cách thỏa đáng, bạn có thể gửi đơn khiếu nại lần hai đến chủ tịch UBND cấp huyện nơi ra quyết định trên. Bạn lưu ý: thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính. Bạn cũng có thể khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Theo đó bạn nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên bao gồm:

- Đơn khởi kiện. Tham khảo mẫu đơn khởi kiện hành chính tại đây.

- Các tài liệu, chứng cứ chứng minh (sao chụp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của dự án, thông báo thu hồi đất của UBND xã, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,...)

- Chứng minh nhân dân, hộ khẩu của ngừoi khởi kiện

- Biên lai thu nộp tạm ứng án phí

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: L[email protected] để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư đất đai - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền sử dụng đất ở khi chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?