1. Nhận thừa kế từ cô ruột có phải đóng thuế không ?

Chào luật sư, tôi muốn luật sư giải đáp giúp tôi vấn đề sau: Tôi ở quê, chưa có nhà riêng nên phải ở chung với nhà vợ. Mấy năm trước, cô tôi mất, có để lại di chúc cho tôi một mảnh đất có diện tích 50m2 đất ở trong mảnh to của nhà cô để hai vợ chồng có chỗ làm ăn, sinh sống. Đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chú và em họ tôi ở thành phố cũng đồng ý và không có tranh chấp gì. Nay tôi muốn tách thửa để làm sổ đỏ riêng nhưng bên ủy ban nhân dân yêu cầu tôi phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính trước bao gồm đóng thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ.

Vậy tôi muốn hỏi tôi nhận tài sản thừa kế từ cô ruột thì tôi có phải đóng thuế không ?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Thuế, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 được hướng dẫn tạ Điều 4 Nghị định 65/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuê thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân quy định về các thu nhập được miễn thuế thu nhập cá nhân:

1. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.

2. Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất.

3. Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất.

4. Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau....

Mối quan hệ của bạn là cô ruột - cháu ruột nên không thuộc các mối quan hệ được miễn thuế thu nhập cá nhân từ việc nhận thừa kế.

Về lệ phí trước bạ được quy định tại Khoản 10 Điều 9 Nghị định 140/2016/NĐ-CP được hướng dẫn tại Khoản 10 Điều 5 Thông tư 301/2016/TT-BTC:

7. Đất thuê của Nhà nước theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm hoặc thuê của tổ chức, cá nhân đã có quyền sử dụng đất hợp pháp....

10. Nhà, đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng giữa: Vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất....

Tương tự, do mối quan hệ của bạn là cô ruột - cháu ruột không nên không thuộc mối quan hệ được miễn lệ phí trước bạ từ việc nhận thừa kế.

Do đó, khi người được nhận thừa kế không thuộc các trường hợp được miễn thuế trên thì khi nhận thừa kế, người nhận thừa kế sẽ phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính về đóng thuế thu nhập cá nhân với mức 2 % giá trị tài sản thừa kế và lệ phí trước bạ với mức 0,5 % khi sang tên. Xác định giá trị mảnh đất được thừa kế được căn cứ theo quy định về bảng giá đất của từng địa phương được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể.

Trước tiên, bạn cần thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế hoặc chứng nhận văn bản thừa kế để công nhận quyền sở hữu của bạn đối với tài sản được nhận thừa kế. Khi thực hiện thủ tục sang tên, bạn sẽ phải nộp kèm tờ khai thuế thu nhập cá nhân và tờ khai lệ phí trước bạ đã đóng đến Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện nơi có đất. Văn phòng đăng ký đất đai sẽ có trách nhiệm thẩm tra, xem xét hồ sơ và trao giấy chứng nhận đăng ký đất đai cho bạn.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Tăng thêm phần thừa kế cho con riêng của con chồng ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Chồng tôi có 1 con riêng, năm 2008 chồng tôi qua đời để lại 3 căn nhà và 1 mảnh đất, tất cả đều có giấy chủ quyền, riêng 1 nhà chưa cấp sổ hồng, vì giấy tờ thất lạc nên tôi cũng chưa làm được.

Về thừa kế chỉ có tôi và con riêng của chồng. Tôi thật sự không muốn chia tài sản vì rất ngại phiền phức, nên tôi đã cho con riêng của chồng sử dụng căn nhà để làm nơi thờ cúng và 1 căn nhà chưa làm giấy tờ để cho thuê (bằng miệng).

Xin Luật sư cho biết nếu tôi muốn không chủ động đòi chia di sản có được không. Cứ để 2 người sủ dụng các tài sản chung như vậy (trù trường hợp con riêng của chồng khởi kiện tôi sẽ đồng ý), nếu không chia thừa kế hết hạn 10 năm sẽ có lợi cho ai (tôi hay con riêng của chồng)

Tôi muốn xây nhà trên mảnh đất do tôi và chồng đứng tên, như vậy có làm tăng thêm phần thừa kế của con chồng đối với mảnh đất này không?

Rất mong Luật sư tư vấn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Điểm 2.2 mục 2 Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định:

"2. Việc áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện liên quan đến thừa kế

2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Như vậy, nếu gia đình bạn không tiến hành chia di sản thừa kế thì sau 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà "không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế." Sau này nếu có nhu cầu chia thừa kế thì Tòa án sẽ áp dụng chia theo thỏa thuận của bạn với người con riêng đó hoặc áp dụng chia tài sản chung theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung nếu giữa hai bạn không có thỏa thuận.

Theo quy định của pháp luật về sở hữu chung thì khi bạn xây nhà trên mảnh đất do bạn và chồng đứng tên thì quyền sở hữu nhà đã được xác định là của bạn, quyền sử dụng đất mà chồng bạn để lại vẫn là tài sản chung giữa bạn và con riêng của chồng. Nếu có tranh chấp về quyền sở hữu ngôi nhà bạn có thể thỏa thuận với người con hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết và có tính tới quyền lợi, chi phí, công sức của bạn đối với ngôi nhà đó.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ: Dịch vụ công chứng uy tín, chuyên nghiệp

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Chỉ con trai mới được thừa kế sổ đỏ do bố mất để lại ?

Thưa Luật sư, gia đình tôi có 5 chị em 2 trai và 3 gái nhưng hai em gái là con riêng của bố tôi. Bố tôi mất năm 2018 không để lại di chúc để lại sổ đỏ đất mang tên bố tôi. Tôi là con gái cả không may mắn trong hạnh phúc gia đình phải về ở nhà mẹ tôi, mẹ tôi cho tôi 240m2 đất nhưng em trai tôi không muốn cho tôi đất.
Nếu tôi muốn làm đơn xin phân chia tài sản thì có được không và mảnh đất này có được chia đều cho 5 chị em hay không hay chỉ 2 người con trai mới được hưởng?
Xin cảm ơn!

Chỉ con trai mới được thừa kế sổ đỏ do bố mất để lại?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Di sản bố bạn để lại được chia đều hay chỉ chia cho con trai?

Theo như thông tin bạn cung cấp thì bố bạn mất năm 2018 không để lại di chúc cho nên phần di sản bố bạn để lại sẽ được mang ra chia thừa kế theo pháp luật. Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về những người được hưởng thừa kế theo pháp luật như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Thời hiệu mở thừa kế đối với di sản là bất động sản được quy định như sau:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Bố bạn mất không để lại di chúc nên nếu vào thời điểm này có người yêu cầu chia tài sản chung thì tài sản đó được chia theo thỏa thuận (nếu có thỏa thuận) hoặc chia theo pháp luật về chia tài sản chung ( nếu không có thỏa thuận).

2. Về phần mẹ bạn cho bạn 240m2 đất và em bạn phản đối.

Mẹ bạn chỉ có quyền cho bạn 240m2 đất nếu đó thuộc quyền sử dụng của mẹ bạn ( có thể là tài sản riêng của mẹ bạn hoặc tài sản của mẹ bạn trong khối tài sản chung với bố bạn).

Nếu đó là tài sản chung của mẹ bạn với bố bạn thì mẹ bạn không có quyền tặng cho quyền sử dụng 240m2 đó cho bạn. Quyền sử dụng đất trong 240m2 nếu có phần của bố bạn thì sẽ được mang ra chia theo nguyên tắc như chúng tôi đề cập trên đây.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài tư vấn: 1900.61621900.6162

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

4. Hết thời hiệu khởi kiện thừa kế: Chia di sản?

Theo quy định, thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, tức sau thời hạn này, đương sự sẽ mất quyền khởi kiện và có tranh chấp thì tòa cũng không xem xét.

Hết thời hiệu khởi kiện thừa kế: Chia di sản?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Để giải quyết tranh chấp di sản sau khi đã hết thời hiệu khởi kiện thừa kế, TAND Tối cao hướng dẫn các tòa thụ lý yêu cầu phân chia theo dạng chia tài sản chung… Thực tế áp dụng vẫn phát sinh vướng mắc. Nhiều chuyên gia cho rằng nên bỏ hẳn hướng dẫn này vì vô hiệu hóa thời hiệu khởi kiện.

Một bên không thừa nhận, tòa bó tay

Vì nhiều lý do, không ít vụ tranh chấp di sản thừa kế chỉ phát sinh sau khi đã hết thời hiệu khởi kiện. Vì thế, ngày 10-8-2004, Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao đã ban hành Nghị quyết 02 (hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình). Theo đó, khi hết thời hiệu khởi kiện thừa kế mà các đồng thừa kế có yêu cầu nhờ tòa chia giúp khối di sản thì tòa vẫn thụ lý, giải quyết nếu các đồng thừa kế có văn bản cam kết di sản là tài sản chung chưa chia, không có tranh chấp về hàng thừa kế và nhờ tòa phân chia giúp.

Thực tiễn đã có không ít trường hợp được giải quyết êm xuôi nhờ Nghị quyết 02. Nhưng ngược lại, hiện cũng đang có rất nhiều vụ việc bị ách tắc chỉ vì một nguyên nhân đơn giản: Một bên đương sự (thông thường là người quản lý, chiếm hữu di sản) không chịu thừa nhận đó là tài sản chung và không yêu cầu tòa phân chia giúp.

Chẳng hạn như trường hợp của anh Đ. Cha mẹ anh có tất cả tám người con. Hai cụ mất trước năm 1985, không để lại di chúc, chỉ để lại một căn nhà trên đường Lê Lai, quận Gò Vấp (TP.HCM). Sau đó, người anh cả đại diện các đồng thừa kế quản lý, sử dụng căn nhà. Rồi ông này tự tiến hành khai nhận di sản với tư cách đại diện thừa kế duy nhất để chiếm trọn 600 triệu đồng tiền đền bù giải tỏa nhà.

Phát hiện ra sự việc, tháng 2-2009, bảy anh em anh Đ. làm đơn gửi công an tố cáo người anh lừa đảo nhưng nơi này từ chối xem xét vì cho rằng đây chỉ là quan hệ dân sự. Hai tháng sau, bảy anh em anh Đ. khởi kiện người anh ra TAND quận 12, nơi người anh đang cư trú.

Tại đây, cán bộ tòa hướng dẫn cho họ biết là thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đã hết, giờ chỉ còn cách yêu cầu tòa chia tài sản chung. Dĩ nhiên là sau đó bảy anh em anh Đ. và tòa cũng đành chào thua vì người anh không chịu nhìn nhận căn nhà cha mẹ để lại là tài sản chung chưa chia.

Không chia tài sản chung?

Để tháo gỡ vướng mắc này đã phát sinh hai luồng quan điểm khác nhau.

Luồng quan điểm thứ nhất cho rằng Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao phải sửa đổi hướng dẫn theo hướng tòa án phải thụ lý, giải quyết yêu cầu chia tài sản chung nếu các đồng thừa kế chứng minh được đó là di sản mà họ có phần thừa kế và không có tranh chấp về hàng thừa kế.

Ngược lại, luồng quan điểm thứ hai được nhiều người đồng tình hơn là nên bỏ hẳn hướng dẫn về việc chia tài sản chung. Cụ thể, sau khi đã hết thời hiệu khởi kiện thừa kế, tòa sẽ không thụ lý, giải quyết bất cứ một yêu cầu phân chia di sản nào nữa.

Theo Ths Nguyễn Xuân Quang (giảng viên Trường ĐH Luật TP.HCM), luật đặt ra thời hiệu khởi kiện nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của đương sự nhưng cũng bảo vệ lợi ích công cộng. Nếu thời hiệu khởi kiện này bị kéo dài không cần thiết sẽ làm xáo trộn các lợi ích xã hội khác. Thời hiệu để khởi kiện thừa kế là 10 năm thì người dân phải có ý thức thực hiện trong khoảng thời gian đó, nếu không, xem như đã tự từ bỏ quyền của mình và phải tự gánh chịu thiệt thòi, bất lợi (nếu có).

Đồng tình, thẩm phán N. (TAND TP.HCM) và luật sư Nguyễn Thị Dung (Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Kon Tum) cũng nhận xét việc “biến tướng” tranh chấp di sản đã hết thời hiệu khởi kiện thành chia tài sản chung chẳng khác nào góp phần làm vô hiệu thời hiệu khởi kiện thừa kế mà luật đã định. Vì vậy, nên cương quyết bỏ hẳn chuyện chia tài sản chung này.

Tăng thời hiệu khởi kiện?

Hai luật sư Nguyễn Trần Chiêu Dương và Nguyễn Đình Hùng (Đoàn Luật sư TP.HCM) đều cho rằng thời hiệu khởi kiện thừa kế 10 năm như hiện nay vẫn còn ngắn, chưa phù hợp với đời sống của người Á Đông với mối quan hệ gia đình gắn bó, bền vững nhưng cũng rất phức tạp. Tăng thời hiệu khởi kiện lên, có thể là 15 năm chẳng hạn thì sẽ hợp lý hơn.

Ths Nguyễn Xuân Quang (giảng viên ĐH Luật TP.HCM) còn băn khoăn ở điểm xử lý di sản hết thời hiệu khởi kiện thừa kế như thế nào, giao cho ai sở hữu? Theo ông, trong trường hợp hết thời hiệu thì nên giao hẳn quyền sở hữu di sản cho đồng thừa kế nào đã và đang quản lý, sử dụng di sản.

Một số vụ tương tự

Tháng 4-2008, chị em bà T. khởi kiện người em dâu ra tòa yêu cầu chia di sản là căn nhà do cha mẹ họ mất năm 1992 để lại. Một năm sau, TAND TP Biên Hòa (Đồng Nai) đã bác yêu cầu của chị em bà T. vì họ không xuất trình được văn bản xác nhận của các đồng thừa kế rằng di sản do người chết để lại là tài sản chung chưa chia.

Tháng 8-2009, TAND tỉnh Đồng Nai cũng đã y án sơ thẩm. Theo tòa, giấy xác nhận của các đồng thừa kế rằng căn nhà tranh chấp tài sản chung chưa chia không có giá trị vì chỉ có chữ ký của chị em bà T., còn người em dâu không thừa nhận, không ký vào tờ xác nhận này.

Năm 1990, cha mẹ bà S. qua đời không để lại di chúc. 14 năm sau, bà S. khởi kiện người em đang quản lý di sản ra tòa để yêu cầu chia thừa kế. Trong khi đó, người em chỉ đồng ý chia một phần di sản bởi cha mẹ đã cho ông phần còn lại khi còn sống. Năm 2006, TAND tỉnh Đ. xử phúc thẩm đã chấp nhận yêu cầu của bà S.

Năm 2009, chánh án TAND Tối cao đã kháng nghị bản án với lý do người để lại di sản mất từ năm 1990, tính đến năm 2004 đã hết thời hiệu chia tài sản thừa kế. Trong khi đó, người em của bà S. lại không thừa nhận toàn bộ di sản là tài sản chung vì cha mẹ đã cho ông một phần khi còn sống nên vụ việc cũng không đủ điều kiện để chia tài sản chung theo hướng dẫn trong Nghị quyết 02 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao.

Cuối năm 2009, Tòa Dân sự TAND Tối cao đã xử giám đốc thẩm, tuyên hủy cả hai bản án sơ, phúc thẩm, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm xét xử lại từ đầu.

Luật Minh Khuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế

5. Hướng dẫn cách phân chia tài sản thừa kế theo luật ?

Thưa luật sư ! Tôi muốn lđược tư vấn về thủ tục khai nhận di sản thừa kế khi mẹ đẻ tôi để lại cho tôi một mảnh đất với một di chúc có hai người làm chứng ?
Xin trân trọng cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Về xét tính hợp pháp của di chúc:

Theo quy định của pháp luật, di chúc hợp pháp khi đủ các điều kiện sau đây:

"a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật."

Để khai nhận di sản thừa kế cho bạn theo di chúc của mẹ bạn thì di chúc của mẹ bạn phải là di chúc hợp pháp.

Nếu di chúc không hợp pháp thì tài sản thừa kế sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

Về thủ tục khai nhận di sản thừa kế:

Căn cứ Luật Công chứng 2014, thủ tục khai nhận dia sản của bạn như sau:

- Bạn gửi 1 bộ hồ sơ tới cơ quan công chứng trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi có bất động sản. Bộ hồ sơ yêu cầu công chứng gồm:

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

+ Giấy chứng tử của mẹ bạn và bố bạn(nếu bố bạn đã mất).

+ Giấy tờ tùy thân của các thừa kế;

+ Những giấy tờ khác (như: giấy khai sinh của anh/chị/em bạn; giấy chứng tử của mẹ banh,..).

-Theo Nghị định 29/2015/NĐ-CP về hướng dẫn chi tiết luật công chứng

Sau khi kiểm tra hồ sơ thấy đầy đủ, phù hợp quy định của pháp luật, cơ quan công chứng tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú trước đây của người để lại di sản; trong trường hợp không có nơi thường trú, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi tạm trú có thời hạn của người đó. Nếu không xác định được cả hai nơi này, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có bất động sản của người để lại di sản.

Sau 15 ngày niêm yết, không có khiếu nại, tố cáo gì thì cơ quan công chứng chứng nhận văn bản thừa kế. Trường hợp chỉ một người duy nhất thì lập Văn bản khai nhận di sản thừa kế theo Điều 50 Luật Công chứng. Trường hợp người thừa kế có cả người thừa kế theo di chúc và những người được hưởng di sản theo Điều 669 Bộ luật Dân sự thì có thể lập Văn bản khai nhận di sản thừa kế (tất cả các thừa kế cùng nhận di sản và không thỏa thuận phân chia) hoặc lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo Điều 57 Luật Công chứng 2014.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân Trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn soạn thảo, xác lập di chúc và phân chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật