1. Ngân hàng nghiêm cấm hành vi nhân viên tư vấn sai thông tin khi giới thiệu trái phiếu với khách hàng

Ngân hàng Nhà nước vừa có Văn bản số 2845/NHNN-TTGSNH gửi các tổ chức tín dụng về việc rà soát, chấn chỉnh hoạt động tư vấn, giới thiệu, cung cấp thông tin trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ quỹ.

Tại văn bản số 2845/NHNN, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại các văn bản chỉ đạo có liên quan về chấn chỉnh việc cung cấp các dịch vụ về trái phiếu doanh nghiệp. Trong đó, ngân hàng cần xem xét xử lý nghiêm những trường hợp cung cấp thông tin không đầy đủ hay định hướng "ép" khách hàng mua trái phiếu doanh nghiệp.

Các ngân hàng chỉ được cung cấp các dịch vụ liên quan đến trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ quỹ theo đúng nội dung quy định tại Giấy phép hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp và quy định có liên quan khác; chủ động rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định nội bộ, quy trình nghiệp vụ, mẫu hợp đồng, ... đối với các hoạt động tư vấn, giới thiệu, cung cấp thông tin trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ quỹ.

Khi cung cấp dịch vụ, các tổ chức tín dụng phải đảm bảo khách hàng hiểu rõ sự khác biệt giữa đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ quỹ với việc gửi tiết kiệm. Ngân hàng phải đảm bảo khách hàng hiểu được các rủi ro phát sinh, vấn đề cần lưu ý khi đầu tư (đặc biệt là rủi ro không trả được nợ lãi, gốc trái phiếu của doanh nghiệp phát hành…); quyền lợi, trách nhiệm của khách hàng và chịu các rủi ro phát sinh trong việc đầu tư và giao dịch trái phiếu cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan, ...

Các ngân hàng không được gây áp lực đối với nhân viên trong việc giới thiệu, cung cấp thông tin cho khách hàng mua trái phiếu, chứng chỉ quỹ để đạt chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công việc (KPI). 

Văn bản của Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ để kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp cung cấp thông tin không đầy đủ, không rõ ràng, thiếu chính xác dẫn đến việc khách hàng hiểu lầm về trái phiếu doanh nghiệp và giữa việc mua trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ quỹ với gửi tiền; không thực hiện đúng quy định nội bộ, quy trình nghiệp vụ, chỉ đạo của Ngân hàng Nhà ước và của pháp luật có liên quan; định hướng hoặc tư vấn sai thông tin để "ép" khách hàng mua trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ quỹ.

 

2. Nhân viên ngân hàng giới thiệu sai thông tin cho khách hàng mua trái phiếu thì phải xử lý thế nào?

Theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 153/2020/NĐ-CP thì trái phiếu doanh nghiệp được hiểu là loại chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do doanh nghiệp phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của doanh nghiệp phát hành. 

Hiện nay, trái phiếu doanh nghiệp được chia làm hai loại như sau:

- Trái phiếu niêm yết: Là loại trái phiếu được đăng ký và lưu ký đầy đủ tại Trung tâm lưu ký chứng khoán, đồng thời được giao dịch rộng rãi trên các sàn tập trung như HNX và HSX. Toàn bộ quá trình giao dịch đều phải dựa trên các quy định của Sở Giao dịch Chứng khoán.

- Trái phiếu OTC: Hay còn gọi là trái phiếu phi tập trung, được giao dịch trên thị trường OTC. Giao dịch không bị ràng buộc bởi các chính sách pháp lý mà dựa trên những thỏa thuận mua bán riêng giữa các nhà đầu tư.

Căn cứ vào Điều 119 Luật Chứng khoán năm 2019 thì các nguyên tắc công bố thông tin trong hoạt động chứng khoán bao gồm:

 - Việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác, kịp thời.

 - Đối tượng công bố thông tin phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin công bố. 

Trường hợp có thay đổi nội dung thông tin đã công bố, đối tượng công bố thông tin phải công bố kịp thời, đầy đủ nội dung thay đổi và lý do thay đổi so với thông tin đã công bố trước đó.

- Đối tượng quy định tại Điều 118 Luật Chứng khoán năm 2019 khi công bố thông tin phải đồng thời báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và tổ chức nơi chứng khoán đó niêm yết, đăng ký giao dịch về nội dung thông tin công bố.

- Việc công bố thông tin của tổ chức phải do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền công bố thông tin thực hiện. Việc công bố thông tin của cá nhân do cá nhân tự thực hiện hoặc ủy quyền cho tổ chức hoặc cá nhân khác thực hiện.

- Đối tượng công bố thông tin có trách nhiệm bảo quản, lưu giữ thông tin đã công bố, báo cáo theo quy định của pháp luật.

Do đó, về nguyên tắc thì việc nhân viên ngân hàng công bố thông tin về trái phiếu cho khách hàng phải được thực hiện đầy đủ, chính xác, kịp thời. Và việc nhân viên ngân hàng tư vấn sai lệch thông tin về mua trái phiếu cho khác hàng là hành vi xâm phạm đến quyền lợi của khách hàng nên người nhân viên/ ngân hàng này có thể bị xử lý như sau:

Thứ nhất, bồi thường thiệt hại

Theo khoản 1, khoản 2 Điều 302 Luật Thương mại năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019 thì bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

 - Bồi thường thiệt hại chủ yếu mang tính chất đền bù những thiệt hại mà người có quyền yêu cầu phải gánh chịu do việc hợp đồng bị vi phạm, hoặc những lợi nhuận mà đáng ra được hưởng nếu như việc vi phạm hợp đồng không xảy ra.

- Bồi thường thiệt hại mang tính tài sản, đền bù thiệt hại để nhằm mục đích đưa người bị thiệt hại về với đúng vị trí mà họ đáng ra được hưởng nếu như hợp đồng được thực hiện đúng đắn và đầy đủ

Khác với các chế tài quy định tại Điều 292 Luật Thương mại hiện hành , chế tài bồi thương thiệt hại có riêng một điều luật quy định về căn cứ áp dụng. Theo đó, Điều 303 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bôi thường thiệt hại gồm 03 căn cứ:

- Có hành vi vi phạm hợp đồng

- Có thiệt hại thực tế,

- Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. 

- Có thiệt hại thực tế.

Do đó, có thể hiểu việc nhân viên ngân hàng giới thiệu thông tin sai lệch về trái phiếu cho khách hàng này phải khiến cho khách hàng bị thiệt hại và hành vi cung cấp sai thông tin được xác nhận là vi phạm tính trung thực của hợp đồng giao kết. Điều này đồng nghĩa với việc nhân viên ngân hàng phải tiến hành bồi thường thiệt hại cho khách hàng theo quy định pháp luật.

Thứ hai, xử phạt hành chính

Theo khoản 5 Điều 42 Nghị định 156/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 128/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng đối với hành vi công bố thông tin sai lệch.

Như vậy, hành vi công bố thông tin sai lệch trong hoạt động chứng khoán sẽ bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng. Bên cạnh đó, còn phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả như sau: Buộc hủy bỏ thông tin hoặc cải chính thông tin đối với hành vi công bố thông tin sai lệch trong hoạt động chứng khoán. (Khoản 6 Điều 42 Nghị định 156/2020/NĐ-CP, sửa đổi bởi Nghị định 128/2021/NĐ-CP). Tuy nhiên, đối với mức phạt tiền nêu trên được áp dụng đối với tổ chức. Mức phạt tiền đối với cá nhân bằng một phần hai mức phạt tiền đối với tổ chức.

 

3. Có nên mua trái phiếu doanh nghiệp qua ngân hàng hay không?

Ngân hàng là tổ chức hay doanh nghiệp thực hiện các hoạt động như: nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán chi phiếu, các dịch vụ khác cho người dân. Ngân hàng hoạt động như một cầu nối trung gian giữa nhà cung cấp vốn và người sử dụng vốn, ngân hàng sẽ thu tiền từ ba nguồn: tài khoản séc, tiền gửi kỳ hạn và tiết kiệm, vay ngắn hạn từ các ngân hàng khác, vốn cổ phần.

Ngoài vai trò trung gian tín dụng, ngân hàng sẽ có những hoạt động đại diện với một số chức năng liên quan cho khách hàng như: thực hiện thanh toán cho bên thứ ba, mua hoặc bán chứng khoán, thực hiện quản lý tiền mặt cho khách hàng là công ty. Cung cấp các hộp ký gửi đảm bảo an toàn, quản lý tài khoản do sự ủy thác của các cá nhân hay tổ chức, thanh toán chi phiếu và hối phiếu cho các định chế tài khác.

Các nhà đầu tư được phép mua trái phiếu doanh nghiệp qua ngân hàng. Tuy nhiên để cân nhắc xem có nên mua trái phiếu qua ngân hàng hay không thì các nhà đầu tư nên lưu ý những vấn đề sau:

- Khi mua trái phiếu tức là nhà đầu tư cho doanh nghiệp vay tiền, chứ không phải cho ngân hàng vay tiền. Ngân hàng chỉ môi giới và kiếm hoa hồng thông qua giao dịch này.

- Ngân hàng là trung gian môi giới trái phiếu doanh nghiệp do các đơn vị này có thuận lợi trong vấn đề phát hành. Rất nhiều trái phiếu doanh nghiệp được ngân hàng hỗ trợ vấn đề phát hành do họ nắm được tất cả các quy định về phát hành. Ngân hàng sẽ có cam kết phân phối hoặc cam kết bảo lãnh trái phiếu của doanh nghiệp phát hành.

- Ngân hàng chào mời mua trái phiếu của doanh nghiệp có thể gây ra những hiểu lầm, hoặc hiểu chưa đầy đủ đối với trách nhiệm của doanh nghiệp với trái phiếu phát hành. Nhà đầu tư thường có suy nghĩ trái phiếu đã được các tổ chức này kiểm tra, thẩm định về tính an toàn nên họ mới giới thiệu đến nhà đầu tư. Sự hiểu lầm này có thể khiến nhà đầu tư an tâm hơn và ra quyết định mua trái phiếu. Nhưng trên thực tế, Ngân hàng không chịu trách nhiệm xác thực vấn đề trên.

- Ngân hàng chỉ là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, hưởng phí dịch vụ từ doanh nghiệp phát hành mà không chịu trách nhiệm về việc doanh nghiệp có hoàn trả được gốc, lãi trái phiếu khi đến hạn hay không. Rủi ro của trái phiếu vẫn là rủi ro của doanh nghiệp phát hành. Thị trường trái phiếu Việt Nam mới phát triển mạnh mẽ trong vài năm gần đây nên các nhà đầu tư chưa có hiểu biết đầy đủ, mới chỉ nhận thấy rằng khi mua trái phiếu doanh nghiệp thì trách nhiệm của doanh nghiệp là phải trả nợ. Thực tế nếu doanh nghiệp thua lỗ, phá sản, nhà đầu tư có thể mất trắng vốn. Vì ngân hàng chỉ là bên giới thiệu nên họ sẽ vô can khi có vấn đề này xảy ra.

- Trừ trường hợp ngân hàng đứng ra bảo lãnh thanh toán, khi nhà phát hành không trả được nợ, ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho nhà phát hành. Vì vậy, nhà đầu tư nên mua trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh thanh toán của ngân hàng sẽ chắc chắn hơn.

Ngoài ra, quý khách có thể tham khảo thêm về bài viết của Luật Minh Khuê như sau:  Trái phiếu chính phủ là gì? Mua, phát hành trái phiếu chính phủ

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Ngoài ra, khách hành cũng có thể liên hệ trực tiếp với các luật sư của Luật Minh Khuê để được giải đáp các vấn đề liên quan đến: Luật sư Bùi Thị Nhung qua số điện thoại: 0931626162. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.