Hợp đồng lao động có thời hạn 1 năm và mỗi năm ký lại 1 lần. Hiên nay, tháng 6/2019, tôi đang mang thai tháng thứ 5 (dự sinh tháng 11/2019) và trưởng văn phòng muốn tôi chỉ làm việc đến hết tháng 8/2019 thì bàn giao việc lại cho người mới dù tôi không hề mắc sai phạm nào.

Vậy tôi muốn hỏi là đối với nhân viên VN làm việc cho VPĐD của công ty nước ngoài thì vẫn được hưởng các quyền lợi như nghỉ thai sản 6 tháng và trưởng văn phòng không có quyền buộc tôi nghỉ việc khi đang mang thai, như vậy có đúng không? Trường hợp VP buộc tôi thôi việc vào tháng 8 nhưng tháng 11 tôi mới sinh con thì tôi sẽ bị gián đọan việc đóng BHXH các tháng 9, 10, 11, vậy tôi có được nhận trợ cấp lương từ BHXH hay không?

Xin luật sư trích dẫn các điều luật có liên quan đến trường hợp của tôi để tôi có thể làm căn cứ đòi hỏi quyền lợi của mình với VP nơi tôi làm việc..”

Luật sư tư vấn:

Thưa Quý Khách hàng! Công ty Luật MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách hàng đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp.

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ Luật lao động năm 2012;

- Luật bảo hiểm xã hội năm 2014

2. Giải quyết yêu cầu:

Quan điểm của Luật Minh Khuê đối với yêu cầu đặt ra từ phía Quý khách hàng như sau:

Yêu cầu thứ nhất, về việc “trưởng văn phòng có quyền buộc tôi nghỉ việc khi đang mang thai không?”

Theo khoản 2, khoản 3 Điều 155 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về Bảo vệ thai sản đối với lao động nữ như sau:

2. Lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi mang thai từ tháng thứ 07, được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà vẫn hưởng đủ lương.

3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

4. Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị xử lý kỷ luật lao động.

5. Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút; trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.

Như vậy, đối với trường hợp của khách hàng nếu doanh nghiệp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng lao động hoặc sa thai, buộc người lao động thôi việc vì lý do mang thai thì đang vi phạm nguyên tắc pháp luật lao động tại Điều khoản ở trên.

Việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng lao động của Người sử dụng lao động được quy định theo Điều 38 Bộ luật lao động. Chị có thể tham khảo thêm Điều 41, Điều 42 Bộ luật lao động để hiểu rõ hơ trách nhiệm của Người sử dụng lao động khi không thực hiện theo quy định của pháp luật.

Yêu cầu thứ hai, “tôi sẽ bị gián đọan việc đóng BHXH các tháng 9, 10, 11, vậy tôi có được nhận trợ cấp lương từ BHXH hay không? ”Yêu cầu này em được hiểu là yêu cầu hưởng chế độ thai sản.

Điều 31. Điều kiện hưởng chế độ thai sản

1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lao động nữ mang thai;

b) Lao động nữ sinh con;

c) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;

d) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;

đ) Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản;

e) Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.

2. Người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

3. Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

4. Người lao động đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các Điều 34, 36, 38 và khoản 1 Điều 39 của Luật này.

Căn cứ theo quy định ở trên thì nếu bạn không có vấn đề về sức khỏe mà phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của bác sĩ thì bạn chỉ cần đóng đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con thì bạn sẽ đủ điều kiện để hưởng chế độ thai sản. Theo thông tin bạn cung cấp thì mình dự sinh tháng 11 năm 2019 có nghĩa là trong khoảng thời gian từ tháng 11/2018 đến tháng 10/2019 bạn chỉ cần đóng đủ 6 tháng bảo hiểm xã hội thì bạn sẽ được nhận bảo hiểm thai sản. Việc bạn có gián đoạn 3 tháng không ảnh hưởng đến điều kiện hưởng của bạn.

Với thông tin bạn cung cấp, chúng tôi nhận thấy bạn đủ điều kiện để hưởng chế độ thai sản.

- Mức hưởng trợ cấp thai sản đối với lao động nữ:

Tiền trợ cấp thai sản

Theo Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, lao động nữ sinh con sẽ được hưởng trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ sinh con.

Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì cha được nhận khoản trợ cấp này.

Hiện nay, mức lương cơ sở là 1,39 triệu đồng/tháng (theo Nghị định 72/2018/NĐ-CP), tức tiền trợ cấp thai sản là 2,78 triệu đồng.

Từ ngày 01/07/2019, mức lương cơ sở sẽ chính thức tăng lên 1,49 triệu đồng/tháng (theoNghị quyết 70/2018/QH14).

Theo đó, kể từ thời điểm này, lao động nữ sinh con sẽ được nhận tiền trợ cấp thai sản là 2,98 triệu đồng/tháng; tăng 200.000 đồng so với hiện nay.

Cụ thể, tiền trợ cấp thai sản sẽ thay đổi như sau:

Từ nay - 30/6/2019

2.780.000 đồng

Từ 01/07/2019

2.980.000 đồng

Tiền hưởng chế độ thai sản

Theo Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, mức hưởng chế độ thai sản một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.

Theo đó, mỗi tháng nghỉ lao động nữ sinh con được hưởng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ sinh.

Ví dụ: Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là 5 triệu đồng/tháng; lao động nữ nghỉ sinh 06 tháng => Tiền hưởng chế độ thai sản của lao động nữ là 5 triệu đồng x 6 tháng = 30 triệu đồng.

Tiền dưỡng sức sau sinh

Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định, lao động nữ ngay sau thời gian hưởng chế độ thai sản, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 05 - 10 ngày.

Trong thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe, lao động nữ được hưởng trợ cấp mỗi ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

Như vậy, khi mức lương cơ sở từ ngày 01/07/2019 được điều chỉnh tăng lên 1,49 triệu đồng/tháng, mức trợ cấp dưỡng sức sau sinh của lao động nữ theo đó cũng tăng lên.

Cụ thể:

- Trước ngày 01/07/2019, tiền dưỡng sức sau sinh bằng 417.000 đồng/ngày;

- Từ ngày 01/07/2019, tiền dưỡng sức sau sinh bằng 447.000 đồng/ngày; tăng 30.000 đồng/ngày so với trước.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật MInh Khuê