1. Nhập khẩu sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm mà không có bản tự công bố thì doanh nghiệp xử phạt thế nào?

Tự công bố sản phẩm là quá trình mà doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân đăng ký các sản phẩm hoạt động kinh doanh của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền một cách tự nguyện, không bị ép buộc bởi nhà nước. Tuy nhiên, các sản phẩm này phải thuộc vào nhóm các sản phẩm không bắt buộc phải đăng ký công bố chất lượng sản phẩm theo Nghị định 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm.

Việc công bố chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường nhằm tăng cường uy tín và lòng tin của khách hàng đối với chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Điều này là điều kiện để thúc đẩy doanh số bán hàng cho doanh nghiệp. Công bố chất lượng sản phẩm cũng là một trong những yêu cầu cần và đủ để sản phẩm của doanh nghiệp được lưu thông trên thị trường. Đặc biệt, nó đảm bảo an toàn vệ sinh và chất lượng cho sản phẩm cũng như sức khỏe của người tiêu dùng. Khi sản phẩm đạt chất lượng, sự tin cậy từ phía người dùng đối với sản phẩm đó cũng tăng cao. Điều này giúp doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ, bền vững và đặc biệt là tăng doanh thu.

Theo quy định tại điểm a khoản 4, khoản 5, điểm a, điểm b khoản 6 Điều 20 của Nghị định 115/2018/NĐ-CP, vi phạm quy định về tự công bố sản phẩm sẽ bị xử phạt và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như sau:

* Xử phạt hành chính:

Mức phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

- Sản xuất hoặc nhập khẩu sản phẩm thuộc diện tự công bố mà không có bản tự công bố sản phẩm theo quy định pháp luật;

- Tự công bố sản phẩm đối với sản phẩm thuộc diện phải đăng ký bản công bố sản phẩm theo quy định pháp luật.

* Hình thức xử phạt bổ sung:

Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, nhập khẩu thực phẩm từ 01 tháng đến 03 tháng đối với vi phạm quy định tại các khoản 3 và 4 của Điều này.

* Biện pháp khắc phục hậu quả:

- Buộc thu hồi thực phẩm đối với vi phạm quy định tại các khoản 2, 3 và 4 của Điều này;

- Buộc thay đổi mục đích sử dụng, tái chế hoặc tiêu hủy thực phẩm đối với vi phạm quy định tại điểm a khoản 3 và điểm a khoản 4 của Điều này;

- Buộc thu hồi bản tự công bố sản phẩm đối với vi phạm quy định tại khoản 2, điểm b khoản 3 và điểm b khoản 4 của Điều này.

Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định 115/2018/NĐ-CP, được sửa đổi bởi điểm b khoản 2 Điều 1 Nghị định 124/2021/NĐ-CP, mức phạt tiền tối đa cho vi phạm hành chính của tổ chức được quy định như sau:

* Mức phạt tiền:

Mức phạt tiền quy định tại Chương II của Nghị định này áp dụng cho vi phạm hành chính của cá nhân, trừ các trường hợp quy định tại các khoản 1 và 5 của Điều 4, khoản 6 của Điều 5, khoản 5 của Điều 6, khoản 6 của Điều 9, khoản 7 của Điều 11, Điều 18, Điều 19, điểm a của khoản 3 của Điều 20, khoản 1 của Điều 21, các khoản 1 và 9 của Điều 22, Điều 24, khoản 6 của Điều 26. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính, mức phạt tiền đối với tổ chức là gấp đôi mức phạt tiền đối với cá nhân.

* Giảm phạt tiền đối với cá nhân:

Các cá nhân vi phạm quy định tại các khoản 1 và 5 của Điều 4, khoản 6 của Điều 5, khoản 5 của Điều 6, khoản 6 của Điều 9, khoản 7 của Điều 11, Điều 18, Điều 19, điểm a của khoản 3 của Điều 20, khoản 1 của Điều 21, các khoản 1 và 9 của Điều 22, Điều 24, khoản 6 của Điều 26 sẽ bị giảm mức phạt tiền đi một nửa.

Do đó, doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm mà không có bản tự công bố sản phẩm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Đồng thời, doanh nghiệp vi phạm còn sẽ bị đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, nhập khẩu thực phẩm trong thời gian từ 01 tháng đến 03 tháng. Ngoài ra, doanh nghiệp này còn bị buộc thu hồi thực phẩm và phải thay đổi mục đích sử dụng, tái chế hoặc tiêu hủy thực phẩm nhập khẩu.

2. Thời hiệu xử phạt đối với nhập khẩu sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm mà không có bản tự công bố

Theo quy định tại điểm a khoản 1 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi bởi điểm a khoản 4 của Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020, thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau đây:

- Vi phạm hành chính liên quan đến kế toán, hóa đơn, phí, lệ phí, kinh doanh bảo hiểm, quản lý giá, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, xây dựng, thủy sản, lâm nghiệp, điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước, hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác, bảo vệ môi trường, năng lượng nguyên tử, quản lý, phát triển nhà và công sở, đất đai, đê điều, báo chí, xuất bản, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa, sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả, quản lý lao động ngoài nước: thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.

- Vi phạm hành chính liên quan đến thuế: thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính tuân theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Dựa trên quy định trên, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm mà không có bản tự công bố sản phẩm là 01 năm.

3. Thẩm quyền xử phạt doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm mà không có bản tự công bố

Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 của Nghị định 115/2018/NĐ-CP về phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, xử phạt hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại các điều từ 4 đến 26 của Nghị định này, theo thẩm quyền quy định tại Điều 28 của Nghị định này và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Nghị định 115/2018/NĐ-CP, được sửa đổi bởi điểm a khoản 15 của Điều 1 Nghị định 124/2021/NĐ-CP, về quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền:

- Phạt tiền đối tới 5.000.000 đồng đối với cá nhân và phạt tiền đối tới 10.000.000 đồng đối với tổ chức;

- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 10.000.000 đồng đối với cá nhân và 20.000.000 đồng đối với tổ chức;

- Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm b khoản 3 Điều 2 của Nghị định này.

Vì vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm với mức phạt tiền cao nhất là 5.000.000 đồng đối với cá nhân và phạt tiền cao nhất là 10.000.000 đồng đối với tổ chức. Tuy nhiên, vì mức phạt vi phạm hành chính đối với doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm là 100.000.000 đồng, do đó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã không có thẩm quyền xử phạt doanh nghiệp này, mà thẩm quyền sẽ thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ theo Khoản 2 Điều 28 của Nghị định 115/2018/NĐ-CP.

Để biết thêm những thông tin liên quan, mời quý bạn đọc tham khảo bài viết: Thuộc đối tượng tự công bố sản phẩm mà không có bản tự công bố sản phẩm sẽ bị xử phạt như thế nào ? 

Đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề "Nhập khẩu sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm mà không có bản tự công bố thì doanh nghiệp bị xử phạt như thế nào?". Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc cần hỗ trợ về các vấn đề pháp lý khác, xin vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn. Chúng tôi sẽ luôn sẵn sàng hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc của bạn một cách nhanh chóng và hiệu quả. Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm và theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.