1. Khái quát chung

STT Tội chiếm giữ trái phép tài sản Tội sử dụng trái phép tài sản
1
Điều 176. Tội chiếm giữ trái phép tài sản
1. Người nào cố tĩnh không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 dồng hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu đỉĩợc nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 177. Tội sử dụng trái phép tài sản
1. Người nào vĩ vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, đã bị xử lỷ kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chỉnh về hành vỉ này hoặc đã bị kêt án vê tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc dưới 500.000.000 đông nhưng tài sản là di vật, cố vật nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 219 và Điều 220 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Tài sản trị giá từ500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
b) Tài sản là bảo vật quốc gia;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội sử dụng trái phép tài sản trị giá 1.500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đổng, cẩm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
2 Điều 176 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 Điều 177 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

Nhặt được tiền của người khác đánh rơi không trả lại và sử dụng thì bị tội gì?

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

2. Phân tích bình luận các đặc điểm của tội danh

2.1 Tội chiếm giữ trái phép tài sản

Điều luật gồm 2 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội chiếm giữ trái phép tài sản và khoản 2 quy định các trường họp phạm tội tăng nặng.

2.1.1 Dẩu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội chiếm giữ trái phép tài sản theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS. 

2.1.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Điều luật quy định 2 dạng hành vi khách quan của tội phạm này. Đó là:
- Hành vi không trả lại tài sản được giao nhầm cho chủ tài sản mà tiếp tục chiếm hữu, sử dụng hoặc đã định đoạt tài sản đó và
- Hành vi không nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản mình tìm được, bắt được... mà tiếp tục chiếm hữu, sử dụng hoặc đã định đoạt tài sản đó.
Theo đó, đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản đã thoát ly khỏi sự chiếm hữu của chủ tài sản (chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp) vì những lý do khác nhau như tài sản bị giao nhầm, bị bỏ quên, bị đánh rơi... hoặc là những tài sản chưa được phát hiện như kim khí quý, những vật báu còn trong lòng đất. Tài sản là đoi tượng của tội chiếm giữ trái phép tài sản có đặc điểm giống như ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ở chỗ: Tài sản đó đã ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội một cách hợp pháp trước khi họ có hành vi phạm tội. Nhưng ở tội chiếm giữ trái phép, lý do mà người phạm tội có tài sản khác với lý do mà người phạm tội có tài sản ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội ở tội chiếm giữ trái phép tài sản có tài sản là do ngẫu nhiên. Sự ngẫu nhiên này có thể là:
- Ngẫu nhiên mà người phạm tội được giao nhầm. Việc giao nhầm này là hoàn toàn không có lỗi của người phạm tội. Đây là điểm khác so với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Ngẫu nhiên người phạm tội đã tìm được, bắt được... tài sản đã bị thất lạc hoặc chưa có người quản lý.
Khi đã có tài sản như vậy, người phạm tội đã có hành vi chiếm giữ trái phép. Đó là hành vi không trả lại tài sản có được cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc là hành vi không giao nộp tài sản có được cho cơ quan có trách nhiệm.

2.1.3 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết tài sản đang có không phải là tài sản của mình và biết mình có nghĩa vụ phải trả lại cho chủ tài sản, người quản lý họp pháp hoặc phải giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm nhưng không thực hiện nghĩa vụ đó vì mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình.
- Dấu hiệu cố tình
Dấu hiệu khác thuộc mặt chủ quan của tội phạm này là dấu hiệu cố tình. Đây là dấu hiệu phản ánh thái độ của người có hành vi chiếm giữ trái phép. Thái độ cố tình là thái độ cương quyết, dứt khoát không chịu giao nộp hoặc không chịu trả lại tài sản mặc dù đã được chủ tài sản hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo đúng quy định của pháp luật.
- Dấu hiệu phân biệt giữa tội chiếm giữ trái phép tài sản với hành vi chiếm giữ trái phép tài sản là vi phạm
Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản chỉ cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản khi thoả mãn một trong các dấu hiệu sau:
- Tài sản bị chiếm giữ trái phép trị giá từ 10 triệu đồng trở lên;
- Tài sản bị chiếm giữ trái phép là di vật, cổ vật. Trong đó, di vật được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; cổ vật được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá, khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên.

2.1.4 Khung hình phạt

Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm được áp dụng cho trường họp tài sản bị chiếm giữ trái phép trị giá 200 triệu đồng trở lên hoặc tài sản bị chiếm giữ trái phép là bảo vật quốc gia. Đó “... là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học” (Điều 4 Luật di sản văn hóa).   

2.2 Tội sử dụng trái phép tài sản

Điều luật gồm 4 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội sử dụng trái phép tài sản; các khoản 2,3 quy định các trường hợp phạm tội tăng nặng và khoản 4 quy định khung hình phạt bổ sung.

2.2.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội sử dụng trái phép tài sản được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS. 

2.2.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi phạm tội của tội này được quy định là hành vi sử dụng trái phép tài sản. Trong đó, hành vi sử dụng được hiểu là hành vi khai thác giá trị sử dụng của tài sản nhưng không làm cho chủ tài sản mất hẳn tài sản. Tính trái phép của hành vi sử dụng thể hiện ở chỗ: Người phạm tội tự ý sử dụng tài sản của người khác như tự ý lái ô tô của người khác đi chở hàng thuê, sau đó lại trả về chỗ cũ hoặc người phạm tội sử dụng tài sản thuộc phạm vi quản lý của mình không đúng quy định như thuyền trưởng dùng tàu của xí nghiệp đi chở thuê lấy tiền cho cá nhân...
Ở đây cần chú ý phân biệt hành vi sử dụng trái phép với hành vi chiếm đoạt. Chỉ coi là sử dụng trái phép nếu hành vi chỉ nhằm khai thác giá trị sử dụng của tài sản trong thời gian nhất định và do vậy chỉ làm cho chủ tài sản mất khả năng chiếm hữu, sử dụng trong khoảng thời gian đó. Sau thời gian này, chủ tài sản sẽ có lại tài sản của mình. Từ cơ sở lý thuyết như vậy thực tiễn xét xử chỉ coi trường họp sử dụng xe ô tô của cơ quan, xí nghiệp đi chở hàng thuê là hành vi sử dụng trái phép nếu sau khi sử dụng trả lại chỗ cũ. Còn trong trường họp cũng chỉ sử dụng nhưng sau khi sử dụng đã vứt bỏ xe ở nơi xa nào đó thì hành vi đã thực hiện không được coi là sử dụng trái phép mà là hành vi trộm cắp tài sản.
Do tính chất của hành vi sử dụng nên đối tượng của tội phạm này là những tài sản mà việc sử dụng không làm cho tài sản bị mất đi và có thể đem lại cho người sử dụng những lợi ích vật chất nhất định. Những tài sản đó có thể là phương tiện vận chuyển cơ giới (ô tô, tàu thủy,...), nhà cửa, đất đai cũng như các thiết bị máy móc khác... Tiền cũng có thể là đối tượng của tội phạm này. Nhưng do đặc điểm của hành vi sử dụng trái phép cũng như do tình trạng “mượn tiền quỹ” trái phép còn tương đối phổ biến và có nhiều trường hợp nghiêm trọng cho nên tiền chỉ được coi là đối tượng của tội sử dụng trái phép tài sản trong một số ít trường hợp. Những trường hợp đó trước hết phải là những trường họp có chứng cứ rõ ràng thể hiện người phạm tội không có ý định chiếm đoạt, không có hành vi gian dối nhằm che đậy, hợp pháp hoá việc “mượn tiền”. Ngoài ra còn đòi hỏi số tiền mượn đó không quá lớn so với khả năng kinh tế của người phạm tội (người phạm tội có đủ điều kiện để hoàn trả) và tiền đó không phải để dùng vào việc bất hợp pháp. Trong những trường hợp khác như trường hợp “mượn tiền quỹ” đi buôn hoặc cho vay lấy lãi..., tiền không được coi là đối tượng của hành vi sử dụng trái phép tài sản. Hành vi mượn tiền trong những trường hợp này phải bị coi là hành vi chiếm đoạt.

2.2.3 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể là lỗi cố ý. Người phạm tội biết mình có hành vi sử dụng trái phép tài sản và chỉ mong muốn sử dụng, không mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình.

2.2.4 Dẩu hiệu động cơ phạm tội

Động cơ phạm tội được quy định là động cơ vụ lợi. Qua việc sử dụng trái phép tài sản người phạm tội nhằm thu về lợi ích vật chất cho cá nhân hoặc nhóm cá nhân. Neu không vì vụ lợi thì hành vi sử dụng trái phép tài sản không cấu thành tội sử dụng trái phép tài sản. 
- Dấu hiệu phân biệt tội sử dụng trái phép tài sản với hành vi sử dụng trái phép tài sản lầ vỉ phạm
Hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác vì vụ lợi cấu thành tội sử dụng trái phép tài sản khi thỏa mãn điều kiện của 01 trong 02 trường hợp sau:
- Tài sản bị sử dụng trái phép trị giá từ 100 triệu đồng trở lên và chủ thể đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi này và chưa được xóa án tích; 
- Tài sản bị sử dụng trái phép là di vật, cổ vật. Trong đó, di vật được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; cổ vật được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá, khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên. 

2.2.5 Khung hình phạt

Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Khung hình phạt này được áp dụng cho trường hợp phạm tội mà tài sản bị sử dụng trái phép trị giá dưới 500 triệu đồng.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Tài sản trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng: Đây là trường hợp phạm tội sử dụng trái phép tài sản mà tài sản bị sử dụng trái phép trị giá từ 500 triệu đồng trở lên nhưng dưới mức 1,5 tỷ đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 của điều luật).
- Tài sản là bảo vật quốc gia: Đây là trường họp phạm tội sử dụng trái phép tài sản mà tài sản bị sử dụng trái phép “... là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học” (Điều 4 Luật di sản văn hóa). 
- Phạm tội 02 lần trở lên;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Đây là trường hợp phạm tội sử dụng trái phép tài sản mà chủ thể đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình khi thực hiện hành vi phạm tội.
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp sử dụng trái phép tài sản thoả mãn các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS. 
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội sử dụng trái phép tài sản mà tài sản bị sử dụng trái phép trị giá 1,5 tỷ đồng trở lên.
Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là: Phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 20 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê