1. Cách xử lý khi nhặt được của rơi 

Trên thực tế, khi đi ngoài đường, không ít lần trong cuộc đời chúng ta sẽ gặp phải tình huống thấy của rơi ngoài đường hoặc tận mắt nhìn thấy người khác đánh rơi đồ. Trong những trường hợp như vậy thường có nhiều cách xử lý khác nhau. Thông thường sẽ có hai luồng tư tưởng trong vấn đề này đó là người nhìn thấy của rơi sẽ "tiện tay đút túi" với mục đích chiếm hữu thành đồ riêng của mình. Trường hợp này sẽ thường thấy ở những đồ vật bị đánh rơi là những vật nhỏ, giá trị không lớn như chiếc mũ, hộp bút, tờ tiền giá trị nhỏ,... Hoặc đối với những tài sản bị đánh rơi mang giá trị lớn như ví tiền, điện thoại,... hay những vật không thể biến thành tài sản của mình được như thẻ căn cước, bằng lái xe,... thì lúc này người nhặt được của rơi sẽ mang đồ vật đó đến cơ quan cơ quan có thẩm quyền để xác nhận và tìm lại chủ tài sản đó. Vậy cách xử lý như nào là không phạm pháp? 

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hiện hành, tài sản bị đánh rơi được coi là tài sản không xác định được chủ sở hữu, tức là không biết ai là chủ của tài sản này. Trong trường hợp phát hiện ra tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, thì người nhìn thấy cần phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai nhằm tìm chủ sở hữu biết mà nhận lại tài sản đã đánh rơi. Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu. 

Cũng có trường hợp tài sản đánh rơi xác định được chủ sở hữu, tức là người nhặt được biết rõ ai là người đánh rơi. Ví dụ như đang đi đường thì thấy một người đi trước đánh rơi chìa khóa hoặc rơi một vật dụng nào đó từ chính người đó. Hay đồ đánh rơi tuy không tận mắt chứng kiến người làm rơi nhưng căn cứ vào tài sản đó có thể xác định được ai là chủ sở hữu như đánh rơi thẻ căn cước công dân, bằng lái xe, hộ chiếu... Thì trong trường hợp này, pháp luật quy định, người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên, cần phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho chính chủ. 

Như vậy, trong tình huống nhìn thấy tài sản bị đánh rơi, dù là tài sản ít giá trị hay có giá trị lớn, thì việc cần làm lúc này là phải thông báo hoặc giao nộp ngay cho cơ quan có thẩm quyền biết để công khai tìm lại chủ sở hữu tài sản đó. Đây tuy là quy định của pháp luật nhưng cũng phần nào được ảnh hưởng bởi nét đẹp truyền thống của dân tộc ta: "Nhặt được của rơi trả người đánh mất". Bên cạnh đó người nhặt được của rơi cũng cần phải lưu ý trong trường hợp giao cho phía cơ quan có thẩm quyền để tìm lại chủ sở hữu thì cũng cần phải nhận lại được thông báo về kết quả tìm cho người nhặt được biết. Quy định này vừa đảm bảo tính công khai, khách quan, minh bạch trong vấn đề xác nhận, tìm lại chủ sở hữu của tài sản nào đó. 

 

2. Xử lý vi phạm khi nhặt được của rơi không trả lại người đánh mất 

Theo quy định của pháp luật nêu trên thì khi một người nhặt được của rơi, việc cần làm lúc này là phải trả lại người đánh mất theo hai cách thức: thông báo và giao cho phía cơ quan có thẩm quyền để tìm lại chủ tài sản; tự mình đi báo hoặc tìm chủ tài sản.

Tuy nhiên trên thực tế, với những món đồ ít giá trị khi bị đánh rơi, người nhặt được thường ngó lơ hoặc "tiện tay đút túi" làm của riêng cho bản thân mà không muốn tìm người đã đánh mất. Vậy trong trường hợp như vậy, hành vi "tiện tay đút túi" đã là một hành vi vi phạm pháp luật, trái với điều luật quy định như đã nêu ở trên. Hành vi này đương nhiên sẽ bị xử phạt hành chính hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo từng trường hợp như sau:

 

2.1. Xử phạt vi phạm hành chính

Việc xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng khi hành vi của người vi phạm pháp luật về việc nhặt được của rơi không trả lại người đánh mất chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo đó tại Điều 15 Nghị định có quy định, hành vi tự ý lấy tài sản của người khác đánh rơi biến thành của riêng mình được coi là hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của người khác. Hành vi này sẽ bị xử phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng và hành vi này cũng có thể bị xử phạt bổ sung buộc trả lại tài sản đã chiếm giữ trái phép.

 

2.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự

Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này sẽ căn cứ vào giá trị của tài sản đánh rơi mà bị chiếm giữ trái phép. Theo đó tại Điều 176 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định về hành vi nêu trên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Chiếm giữ trái phép tài sản nếu thuộc các trường hợp sau đây:

+ Thứ nhất, giá trị tài sản từ 10 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng

+ Thứ hai, giá trị tài sản dưới 10 triệu đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật 

Nếu giá trị tài sản rơi vào một trong hai trường hợp nêu trên mà được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp hay cơ quan có thẩm quyền yêu cầu được nhận lại, mà người đang giữ tài sản đó cố tình không trả lại thì sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Bên cạnh đó, nếu giá trị tài sản từ 200 triệu đồng trở lên hoặc là bảo vật quốc gia thì sẽ bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm 

Như vậy, ngoài việc bị xử phạt hành chính thì người nhặt được của rơi không trả lại người đánh rơi hoặc thông báo cho cơ quan có thẩm quyền, mà tự ý chiếm giữ làm của riêng của mình còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc "nhặt được của rơi trả người đánh mất" luôn là một nghĩa cử cao đẹp của dân tộc Việt Nam ta từ xa xưa đến nay. Và điều này đã được luật hóa vào hệ thống pháp luật Việt Nam. Do vậy người dân khi ra đường nếu vô tình nhặt được tài sản không phải của mình thì điều cần làm là thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã để tìm lại người đánh mất.

 

3. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản bị đánh rơi

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì khi vô tình thấy tài sản bị đánh rơi ngoài đường hoặc bị bỏ quên, người phát hiện cần phải trả lại cho người đánh mất theo các cách thức nêu trên. Tuy nhiên nếu trong trường hợp đã làm theo đúng quy định của pháp luật nhưng vấn không thể tìm ra chủ sở hữu, không ai nhận tài sản bị đánh rơi, bỏ quên đó thì tài sản này sẽ được xử lý như nào? 

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc xác lập quyền sở hữu đối với hai loại tài sản trong trường hợp này, đó là tài sản vô chủ và tài sản do người khác đánh rơi hoặc bỏ quên. Tài sản vô chủ được hiểu là chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản đó. Khi phát hiện ra loại tài sản này, người phát hiện hoặc người đang quản lý tào sản vô chủ là động sản thì sẽ có quyền sở hữu tài sản đó (trừ trường hợp luật có quy định khác). Còn tài sản vô chủ là bất động sản thì sẽ thuộc về Nhà nước.

Đó là với tài sản vô chủ, còn nếu tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu thì sau khi giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền mà vẫn không tìm được ai là chủ sở hữu tài sản hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì sẽ có hai mốc thời gian sau đây cần lưu ý:

+ Thứ nhất là sau 01 năm kể từ ngày thông báo công khai, quyền sở hữu đối với động sản đó thuộc về người phát hiện tài sản nếu tài sản đó có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Còn trong trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được sẽ được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở. Phần còn lại thuộc về Nhà nước.

+ Thứ hai, sau 05 năm kể từ ngày thông báo công khai, tài sản là bất động sản hoặc thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì sẽ thuộc về Nhà nước, người phát hiện được hưởng một khoản tiền thưởng theo luật định.

Như vậy, trong thời gian nêu trên nếu không xác nhận được chủ sở hữu tài sản hoặc chủ sở hữu không nhận tài sản thì tùy theo từng trường hợp, người nhặt được sẽ thành chủ tài sản đó hoặc được hưởng một phần giá trị của nó theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp tài sản vô chủ là bất động sản thì sẽ không cần căn cứ vào thời gian quy định cụ thể mà có thể xác lập luôn quyền sở hữu đối với người phát hiện hoặc người đang quản lý tài sản vô chủ đó. Tuy nhiên thì việc xác định đâu là tài sản vô chủ rất khó, nên để thuận tiện nhất và bảo đảm quyền lợi cho người nhặt được thì khi rơi vào tình huống phát hiện "của rơi", cần phải báo và giao nhận cho phía cơ quan có thẩm quyền để xem xét.

Trên đây là tư vấn về Nhặt được của rơi nên xử lý như thế nào. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng cảm ơn!