1. Các điều kiện khởi kiện vụ án dân sự

Điều kiện về chủ thể khởi kiện

Để khởi kiện vụ án dân sự, người khởi kiện cần đáp ứng một số điều kiện quan trọng, bao gồm quyền khởi kiện và đủ năng lực tố tụng dân sự. Điều này được quy định rõ trong Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Người khởi kiện phải là cá nhân, cơ quan, hoặc tổ chức có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến các lĩnh vực như dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, đất đai, và nhà ở (gọi tắt là lĩnh vực dân sự). Quyền và lợi ích hợp pháp này chỉ có được khi chủ thể tham gia vào các mối quan hệ pháp luật liên quan đến lĩnh vực dân sự, và chỉ khi chúng bị xâm phạm mới đủ điều kiện khởi kiện vụ án dân sự.

Mặc dù người khởi kiện có quyền và lợi ích hợp pháp trong lĩnh vực dân sự, nhưng quyền và lợi ích đó phải đã hoặc đang bị xâm phạm để có đủ điều kiện khởi kiện. Chỉ khi quyền và lợi ích này bị xâm phạm, người khởi kiện mới có thể yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án để bảo vệ quyền lợi của mình.

Ngoài ra, để bảo vệ quyền và lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước trong các lĩnh vực mà chúng phụ trách, pháp luật cũng quy định quyền khởi kiện của một số cá nhân, cơ quan, tổ chức cụ thể như cơ quan quản lý gia đình, cơ quan quản lý trẻ em, và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình.

Vụ án được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Tòa án chỉ có thẩm quyền thụ lý vụ án dân sự trong phạm vi các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của mình. Xác định thẩm quyền là một điều kiện quan trọng để đảm bảo sự hoạt động bình thường và hợp lý của hệ thống pháp luật nhà nước. Đồng thời, việc phân định rõ thẩm quyền giữa các Tòa án cũng đóng góp vào việc thực hiện nhiệm vụ đúng đắn và giúp người dân dễ dàng thực hiện quyền khởi kiện của mình.

Thẩm quyền chính xác của Tòa án tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ của họ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Để một vụ án dân sự được thụ lý, đơn khởi kiện phải được gửi đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết.

Cụ thể, nguyên tắc xác định thẩm quyền được quy định như sau:

- Vụ án phải thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết của Tòa án, theo quy định tại các Điều 26, 28, 32 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Cấp Tòa án giải quyết vụ án phải phù hợp với Điều 35, 36, 37, 38 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Vụ án phải được khởi kiện đúng thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ quy định tại Điều 39 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Trong trường hợp người khởi kiện có quyền lựa chọn Tòa án theo quy định tại Điều 40 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015, đương sự phải cam kết không khởi kiện tại các Tòa án khác theo yêu cầu.

- Nếu thông qua thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết, đối tác phải kiểm tra tính hợp pháp của thỏa thuận.

- Đối với những vụ án mà pháp luật quy định phải yêu cầu cơ quan khác giải quyết trước, chủ thể khởi kiện chỉ được tiến hành khởi kiện khi các cơ quan liên quan đã giải quyết mà không có sự đồng ý.

Khi xác định thẩm quyền, Tòa án cũng cần xác định loại tranh chấp thuộc lĩnh vực nào (dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động...) để lập sổ thụ lý cho đúng theo quy định. Việc này có ý nghĩa quan trọng khi xác định các quy định pháp luật nội dung áp dụng cho vụ án.

Quy trình khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sẽ bao gồm các bước như việc nộp đơn khởi kiện, kiểm tra và tiếp nhận đơn, xác định thẩm quyền, lập sổ thụ lý, và các bước tiếp theo để đảm bảo việc giải quyết vụ án theo đúng quy trình và quy định của pháp luật.

Vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện là khoảng thời gian mà các chủ thể có quyền khởi kiện được ủy quyền để yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của họ khi bị xâm phạm. Hết thời hiệu khởi kiện, chủ thể đó sẽ mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật. Riêng đối với yêu cầu hoàn trả lại tài sản thuộc sở hữu nhà nước và yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân, không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 185 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Trên thực tế, có nhiều nguyên nhân khách quan dẫn đến việc không thực hiện khởi kiện trong thời hạn quy định. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, pháp luật không tính vào thời hiệu khởi kiện trong một số trường hợp như sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan, người có quyền khởi kiện chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà chưa có người đại diện; người đại diện của họ bị chết mà chưa có người thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện (Điều 186 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015).

2. Thế nào là chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án dân sự?

Chưa đủ điều kiện khởi kiện, theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015, được hiểu theo hướng dẫn tại Điều 3 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, giải thích các quy định tại khoản 1 và khoản 3 của Điều 192 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 về việc trả lại đơn khởi kiện và quyền nộp lại đơn khởi kiện vụ án do Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao ban hành. Cụ thể như sau:

- Trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là khi có các điều kiện trong pháp luật tố tụng dân sự hoặc pháp luật khác về việc cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước. Tuy nhiên, người khởi kiện đã tiến hành khởi kiện đến Tòa án mà vẫn thiếu một trong các điều kiện trên.

- Đối với tranh chấp liên quan đến việc ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa qua thủ tục hòa giải tại Ủy ban Nhân dân xã, phường, thị trấn theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013, đây được xác định là chưa đủ điều kiện khởi kiện theo điểm b, khoản 1 Điều 192 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Trong trường hợp tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất, chẳng hạn như tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng có liên quan đến quyền sử dụng đất, thì việc thực hiện thủ tục hòa giải tại Ủy ban Nhân dân xã, phường, thị trấn không phải là điều kiện khởi kiện vụ án theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 192 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

3. Quy định về phạm vi khởi kiện vụ án dân sự

Căn cứ theo quy định tại Điều 188 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về phạm vi khởi kiện như sau:

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.

- Nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể cùng khởi kiện một cơ quan, một tổ chức, một cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 187 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.

Xem thêm: Phải làm gì khi chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án dân sự

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Như thế nào là chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án dân sự? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!