- 1. Khái quát chung về Án lệ số 50/2021/AL1
- 2. Hiểu sao về kiện đòi tài sản? Quyền kiện đòi tài sản theo bản án, quyết định có hiệu lực của pháp luật?
- 3. Quy định về quyền khởi kiện đòi lại tài sản của người được giao tài sản khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
- 3.1. Phương thức khởi kiện
- 3.2. Thời hiệu khởi kiện
1. Khái quát chung về Án lệ số 50/2021/AL1
Án lệ số 50/2021/AL1 Về quyền khởi kiện vụ án đòi lại tài sản của người được giao tài sản theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn của án lệ là Quyết định giám đốc thẩm số 481/2012/DS-GĐT ngày 25-9-2012 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản” tại tỉnh Thừa Thiên Huế giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn N với bị đơn là bà Nguyễn Thị T. Nội dung của vụ án sẽ được Luật Minh Khuê cung cấp tại mục 2 của bài viết.
Án lệ với tình huống Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án giải quyết việc phân chia tài sản nhưng bản án, quyết định này chưa được thi hành do người được thi hành án không yêu cầu thi hành án và chưa nhận tài sản trên thực tế. Khi hết thời hiệu yêu cầu thi hành án, người được Tòa án giao tài sản mới có tranh chấp đòi lại tài sản được giao theo bản án, quyết định nêu trên. Trường hợp này, giải pháp pháp lý đặt ra là Tòa án phải xác định người đã được giao tài sản theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có quyền khởi kiện đòi lại tài sản.
Án lệ có nội dung chính như sau: “Theo quy định của pháp luật thì quyền sử dụng đất của ông N đối với đất tranh chấp đã được xác định tại Bản án phúc thẩm số 43 ngày 13/5/1977 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên. Tòa án không được giải quyết lại quan hệ ai là chủ sử dụng đất hợp pháp, nhưng kiện đòi lại tài sản lại là quan hệ pháp luật khác. Nếu còn thời hiệu thi hành án thì ông N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế thực hiện giao đất theo Bản án số 43 ngày 13/5/1977 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên. Tuy nhiên, nay đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì ông N có quyền khởi kiện đòi lại tài sản bằng vụ án dân sự mới. Trong trường hợp này, nếu không có căn cứ xác định ông N đã từ bỏ quyền tài sản thì phải chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N”
2. Hiểu sao về kiện đòi tài sản? Quyền kiện đòi tài sản theo bản án, quyết định có hiệu lực của pháp luật?
Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu tòa án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho mình. Đòi lại tài sản là một trong những phương thức bảo vệ quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Quyền đòi lại tài sản được quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó Luật quy định, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó.
Như vậy, mục đích của việc khởi kiện này là chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp lấy lại được tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình. Điều kiện chung để người dân thực hiện quyền kiện đòi tài sản là:
Thứ nhất, về chủ thể có quyền yêu cầu: Là chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản đó như người thuê tài sản, người nhận giữ tài sản… Phải chứng minh được quyền sở hữu của mình đối với tài sản hay nói cách khác chứng minh được quyền khởi kiện của mình.
Thứ hai, người bị khởi kiện: Phải là người chiếm hữu bất hợp pháp đối với tài sản. Điều kiện này rất quan trọng vì có nhiều khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phát hiện ra người chiếm hữu tài sản của mình lúc trước nhưng lúc này người chiếm hữu đó lại trở thành người chủ sở hữu của tài sản do được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu.
Thứ ba, tài sản kiện đòi phải còn tồn tại, nếu vật là đối tượng kiện đòi, không còn tồn tại do bị tiêu hủy, hoặc bị mất thì người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không thể trả lại chính tài sản đó cho bên kiện đòi. Vì thế, trong trường hợp này phải áp dụng phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Thứ tư, thuộc trường hợp được phép đòi lại tài sản theo quy định của pháp luật: Theo quy định của pháp luật, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp chỉ được quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nếu pháp luật có quy định. Vì vậy dù đủ 3 điều kiện trên, nhưng không thuộc trường hợp đòi lại tài sản thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp chỉ được quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là, chủ sở hữu tài sản có quyền đòi lại tài sản của mình khi tài sản đó đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hay không? Trước khi trả lời cho câu hỏi này, chúng ta đã tìm hiểu thông tin về quyền khởi kiện để đòi lại tài sản nêu trên. Tuy nhiên đó chỉ là quyền đòi lại tài sản khi tài sản đó chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tài sản bằng một quyết định hay bản án nào cả.
Vì vậy có thể hiểu rằng, quyền khởi kiện vụ án đòi lại tài sản theo quyết định, bản án đã có hiệu lực của pháp luật được hiểu là chủ sở hữu tài sản có tài sản là đối tượng giải quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực của pháp luật có quyền khởi kiện đòi lại tài sản của mình nếu như trong bản án, quyết định của Tòa án không giải quyết đúng đắn quyền lợi của chủ sở hữu tài sản đó.
Lấy một ví dụ cho quý khách dễ hình dung hơn về quyền khởi kiện này: Theo bản án ly hôn của anh A và chị B có tài sản chung là nhà đất được Tòa án giải quyết chia cho hai người mỗi người một nửa. Anh A phải thanh toán khoản tiền chênh lệch cho chị B để nhận toàn bộ nhà đất thay vì bán cả nhà đất đi lấy tiền chia đôi. Tuy nhiên trước đây chị C là người gửi tiền về cho vợ chồng AB mua nhà đất nêu trên và số tiền có tỷ lệ giá trị chiếm khoản 2/3 giá trị căn nhà, có văn bản xác nhận tài sản chung được chứng thực của chính quyền địa phương. Trong trường hợp này, chị C hoàn toàn có quyền khởi kiện để đòi lại tài sản của mình sau khi vợ chồng AB ly hôn.
Tuy nhiên đó chỉ là quyền khởi kiện mà chúng ta hiểu với nhau như vậy. Nhưng dưới góc độ pháp luật tố tụng, chúng ta sẽ thực hiện đòi lại tài sản của chị C theo phương thức tố tụng khác. Đó là phương thức nào? Mời quý khách theo dõi mục 3 ngay dưới đây của bài viết:
3. Quy định về quyền khởi kiện đòi lại tài sản của người được giao tài sản khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
3.1. Phương thức khởi kiện
Trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì người dân không thể nào tiến hành khởi kiện tiếp để đòi lại tài sản của mình được. Tức là trong ví dụ nêu trên, chị C không thể nào khởi kiện vợ chồng AB để đòi lại tài sản được. Bởi căn cứ điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là một trong những lý do Tòa án được quyền trả lại đơn khởi kiện
Vậy lúc này người chủ sở hữu tài sản đó phải làm sao để thực hiện được quyền đòi lại tài sản của mình. Theo đó, chủ sở hữu tài sản hoàn toàn có thể làm đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nếu có căn cứ và gửi lên cơ quan có thẩm quyền để đề nghị
Quý khách có thể tham khảo bài viết:
- Mẫu đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm mới nhất 2023
- Mẫu đơn đề nghị xem xét theo thủ tục tái thẩm mới nhất 2023
Tuy nhiên thủ tục này cần phải đảm bảo trong thời hiệu yêu cầu. Thời hiệu yêu cầu xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực theo thủ tục giám đốc thẩm như sau:
3.2. Thời hiệu khởi kiện
Tại Điều 334 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm như sau:
Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị theo quy định nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị:
+ Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định và sau khi hết thời hạn kháng nghị 03 năm nêu trên mà đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị
+ Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 326 của Bộ luật Tó tụng dân sự năm 2015, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của cộng đồng, lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó.
Còn thời hạn để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Quyền khởi kiện vụ án đòi lại tài sản của người được giao tài sản theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật do Công ty Luật Minh Khuê biên soạn và muốn gửi đến quý khách mang tính chất tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc!
Nếu quý khách có nhu cầu muốn báo phí dịch vụ, quý khách hãy vui lòng gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất. Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!