Tóm tắt nội dung yêu cầu tư vấn của khách hàng:

Thưa luật sư, xin hỏi: Nguyên, gia đình tôi có một mảnh đất ruộng với diện tích 6000m2 (có giấy CNQSDĐ thời chế độ cũ-gọi là bàn phán), do trong quá trình canh tác nước rừng (thời điểm này chưa xây dựng Hồ chứa nước) chảy qua ruộng nhiều quá tôi không thể canh tác được nên tôi đã tự lấy đất ruộng canh tác của mình để vét mương thoát nước. (Quá trình lấy đất canh tác vét mương có 03 người vét mương làm chứng và họ đã ký giấy làm chứng). Vào năm 1999, Chính quyền địa phương đồng loạt đo đạc, vẽ sơ đồ cấp sổ đỏ mới lại cho người dân, họ lại không tính phần diện tích tôi bỏ ra vét mương vào diện tích đất cấp sổ cho tôi (quá trình đo đạc họ không mời tôi lên để xác định vị trí diện tích đất) nên tôi cũng không biết đất mình bỏ ra để vét mương họ không tính vào. Sau này, con mương đó tôi không còn sử dụng nữa, tôi đã cuốc ra để làm ruộng, do đã có Hồ chứa nước nên nước không tràn vào ruộng tôi nữa và tôi cũng có làm mương thoát nước ở vị trí khác thuận lợi hơn cho việc canh tác đã mấy chục năm nay rồi.

Thời gian gần đây (2020), UBND xã xuống tiến hành xây mương bê tông để phục vụ cho việc thoát nước chăn nuôi vịt các hộ gia đình kế bên ruộng tôi VÌ HỌ CÓ NGƯỜI NHÀ LÀM TRÊN XÃ; Đồng thời, khi UBND xã xây con mương này đã không thông báo cho gia đình tôi biết,? Khi gia đình tôi phát hiện ra, không cho xây thì họ mới mời tôi lên xã để thương lượng xây con mương. Khi thương lượng không thành công thì họ nói gia đình tôi chiếm đất của nhà nước, và đòi phục hồi lại hiện trạng con mương và tiến hành xây mương bê tông trên vị trí con mương cũ, gia đình tôi không đồng ý và nói đây là đất của gia đình tôi. Ngoài ra, gia đình tôi cũng đưa ra các bằng chứng cho công chức địa chính xã xuống thực địa xem nhưng họ vẫn làm ngơ và tôi cũng dĩ hòa vi quý bảo là “nếu hiến đất làm mương chung thì mỗi bên chịu phân nữa” vì làm con mương này chỉ mang lại lợi ích cho một số người, chứ tôi cũng không có lợi ích gì; nhưng họ cứ bảo lấy đất con mương của tôi mà làm.

Như vậy, theo Luật sư thì gia đình tôi có thể khiếu nại vấn đề này lên Chủ tịch Huyện để họ trả lại đất cho tôi không? Hay khiếu nại ra tòa án huyện ?, có cần gửi cho UBND xã không ?

Cảm ơn luật sư!

Người gửi: B.T.N Lai

Luật sư tư vấn:

Thưa Quý khách hàng, Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới Quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn Quý khách hàng đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của Quý khách hàng liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

Căn cứ pháp lý:

- Luật đất đai 2013;

-Luật khiếu nại 2011;

- Nghị định 43/2013/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai;

- Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai và Các văn bản pháp luật khác liên quan.

Căn cứ Điều 100 Luật đất đai năm 2013 quy định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất như sau:

>> Xem thêm:  Những vi phạm về chi tiền cho một dự án làm đường bê tông tại thôn và hướng giải quyết?

“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

Theo hướng dẫn tại Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 16 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP thì các giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15/10/1993 theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 100 Luật đất đai có tên người sử dụng đất bao gồm:

“1. Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980.

2. Một trong các giấy tờ được lập trong quá trình thực hiện đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299-TTg ngày 10 tháng 11 năm 1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước do cơ quan nhà nước đang quản lý, bao gồm:

a) Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã xác định người đang sử dụng đất là hợp pháp;

b) Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, cấp tỉnh lập;

c) Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất đối với trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này…

d) Giấy tờ về việc chứng nhận đã đăng ký quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện hoặc cấp tỉnh cấp cho người sử dụng đất;

đ) Giấy tờ về việc kê khai đăng ký nhà cửa được Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện hoặc cấp tỉnh xác nhận mà trong đó có ghi diện tích đất có nhà ở;

e) Giấy tờ của đơn vị quốc phòng giao đất cho cán bộ, chiến sỹ làm nhà ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo Chỉ thị số 282/CT-QP ngày 11 tháng 7 năm 1991 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng mà việc giao đất đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất làm nhà ở của cán bộ, chiến sỹ trong quy hoạch đất quốc phòng đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

3. Dự án hoặc danh sách hoặc văn bản về việc di dân đi xây dựng khu kinh tế mới, di dân tái định cư được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

4. Giấy tờ của nông trường, lâm trường quốc doanh về việc giao đất cho người lao động trong nông trường, lâm trường để làm nhà ở (nếu có).

5. Giấy tờ có nội dung về quyền sở hữu nhà ở, công trình; về việc xây dựng, sửa chữa nhà ở, công trình được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, xây dựng chứng nhận hoặc cho phép.

6. Giấy tờ tạm giao đất của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh; Đơn đề nghị được sử dụng đất được Ủy ban nhân dân cấp xã, hợp tác xã nông nghiệp phê duyệt, chấp thuận trước ngày 01 tháng 7 năm 1980 hoặc được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh phê duyệt, chấp thuận.

7. Giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất cho cơ quan, tổ chức để bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên tự làm nhà ở hoặc xây dựng nhà ở để phân (cấp) cho cán bộ, công nhân viên bằng vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc do cán bộ, công nhân viên tự đóng góp xây dựng. Trường hợp xây dựng nhà ở bằng vốn ngân sách nhà nước thì phải bàn giao quỹ nhà ở đó cho cơ quan quản lý nhà ở của địa phương để quản lý, kinh doanh theo quy định của pháp luật.

8. Bản sao giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và các giấy tờ quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành cấp huyện, cấp tỉnh đối với trường hợp bản gốc giấy tờ này đã bị thất lạc và cơ quan nhà nước không còn lưu giữ hồ sơ quản lý việc cấp loại giấy tờ đó.”

Như vậy, nếu gia đình Quý khách có một trong các giấy tờ theo quy định nêu trên thì đây sẽ là căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Theo thông tin Quý khách cung cấp, gia đình Quý khách có một mảnh ruộng (diện tích 6000m2) có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời chế độ cũ – gọi là bàn phán, do Quý khách không cung cấp cụ thể giấy tờ trên, nên nếu giấy tờ này xác định rõ diện tích, vị trí thửa đất của gia đình Quý khách là 6000m2, đồng thời Quý khách thực hiện nạo vét mương trên phần diện tích thuộc sở hữu của gia đình mình thì việc UBND xã xây dựng con mương mới trên đó là không có cơ sở.

Năm 1999, chính quyền địa phương đồng loạt đo đạc, vẽ sơ đồ cấp GCNQSDĐ mới cho người dân nhưng quá trình đo đạc không mời gia đình Quý khách lên xác định vị trí đất, phần diện tích mương thuộc diện tích sử dụng của gia đình Quý khách lại không tính vào, nên Quý khách hoàn toàn có quyền khiếu nại về hành vi hành chính của cán bộ trực tiếp thực hiện hoặc khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để bảo vệ quyền lợi của mình.

Theo Điều 204 Luật đất đai 2013 quy định về việc giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai thì người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Để yêu cầu Ủy ban nhân dân có thẩm quyền xem xét lại diện tích thửa đất hợp pháp của gia đình, Quý khách có quyền khiếu nại trực tiếp tới Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. (Điều 7 Luật khiếu nại 2011)

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết mà không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 11 Luật khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý giải quyết; thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp biết, trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý. (Điều 28 Luật khiếu nại 2011).

Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý.

Trong trường hợp Quý khách khởi kiện, thẩm quyền giải quyết sẽ do Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, trừ quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện.

Trên đây là tư vấn, phân tích quy định pháp luật của chúng tôi. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Tư vấn về vấn đề mở rộng đường nông thôn ?

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty Luật TNHH Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quy định về làm đường bê tông xây dựng nông thôn mới người dân có phải đóng góp không ? Nhà nước hỗ trợ thế nào ?