1. Tội xâm phạm sở hữu là gì?
Tội xâm phạm quyền sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quyền sở hữu tài sản của cá nhân được nhà nước thừa nhận.
2. Các tội xâm phạm sở hữu theo Bộ luật Hình sự 2015
Tại Bộ luật Hình sự năm 2015, các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XVI (từ Điều 168 đến Điều 180). Theo quy định của Bộ luật Hình sự có 13 tội thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu.
Căn cứ vào tính chất của mục đích phạm tội, có thể chia 13 tội nói trên thành hai nhóm. Đó là nhóm các tội có mục đích tư lợi, tức có mục đích nhằm thu về những lợi ích vật chất cho cá nhaanhay nhóm cá nhân.
- Nhóm các tội có mục đích tư lợi:
+ Nhóm các tội có mục đích chiếm đoạt: Tội cướp tài sản; Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản;Tội cưỡng đoạt tài sản; Tội cướp giật tài sản tại Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản;Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
+ Nhóm các tội không có mục đích chiếm đoạt: Chiếm giữ trái phép tài sản; tội sử dụng trái phép tài sản.
- Nhóm các tội không có mục đích tư lợi: Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tại Điều 179 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản tại Điều 180 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Hình phạt chính được quy định cho các tội xâm phạm sở hữu có nhiều mức độ khác nhau. Hình phạt được quy định thấp nhất là hình phạt cảnh cáo và cao nhất là hình phạt tù chung thân. Trong số 13 tội có 9 tội được quy định có thể là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, 1 tội được quy định chỉ là tội phạm ít nghiêm trọng. Số tội còn lại được quy định có thể là tội phạm nghiêm trọng hoặc là tội phạm rất nghiêm trọng.
Các hình phạt bổ sung được quy định cho các tội xâm phạm sở hữu là phạt tiền, tịch thu tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, quản chế hoặc cấm cư trú.
3. Những điểm mới về tội xâm phạm sở hữu theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015.
Những điểm mới cơ bản quy định về các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự năm 2015:
* Bổ sung một số loại tài sản là dấu hiệu định tội.
* Thay cụm từ “thương tật ’ bằng cụm từ “tổn thương cơ thể” tại các điều 168,169,171 Bộ luật hình sự năm 2015.
* Cụ thể hóa tình tiết định khung “gây hậu quả nghiêm trọng” bằng các tình tiết: 'Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả nàng tự vệ”, “Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” hoặc bỏ tình tiết này tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174,175,178 Bộ luật hình sự năm 2015.
* Bỏ các tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” ở Khoản 3, Khoản 4 của các điều luật.
* Bổ sung và cụ thể hóa các tình tiết định khung tăng nặng mới ở một số điều luật.
* Thay đổi mức định lượng tài sản ở một số ít tội danh.
* về hình phạt: Bỏ hình phạt tử hình ở Khoản 4, Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015. Điều luật đã bỏ hình phạt tù chung thân ở Khoản 4, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
* Cụ thể hóa các tình tiết định khung tăng nặng.
4. Phân tích về các tội xâm phạm sở hữu.
Về khách thể của tội phạm:
Theo luật hình sự Việt Nam, những tội được coi là tội xâm phạm sở hữu và cùng được quy định trong Chương XVI Bộ luật Hình sự là những tội có cùng khách thể là quan hệ sở hữu. Điều này có ý nghĩa:
- Các tội xâm phạm sở hữu phải là những hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu.
- Sự gây thiệt hại này phải phản ánh đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản được tôn trọng và bảo vệ. Hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạn gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu là những hành vi xâm phạm các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Một hành vi tuy cũng gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu chung nhưng sẽ không phải là tội xâm phạm sở hữu nếu hành vi này đồng thời còn gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội khác và sự gây thiệt hại này mới thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Trong trường hợp này khách thể (trực tiếp) không phải là quan hệ sở hữu.
– Một số vật do tính chất và công dụng đặc biệt không được coi là đối tượng tác động của các tội hoặc một số tội xâm phạm sở hữu mà là đối tượng tác động của các hành vi phạm tội khác.
– Vật khi không còn là tài sản vì đã bị chủ tài sản hủy bỏ cũng sẽ không còn là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu.
– Tiền luôn luôn cso thể là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu
– Giấy tờ có giá có thể là phương tiện phạm tội giúp người phạm tội có thể xâm phạm sở hữu. Trong một số trường hợp, giấy tờ này có thể là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu. Đó là trường hợp giấy tờ có giá cho phép bất kì ai có giấy tờ này đều có thể sử dụng được.
Tội xâm phạm sở hữu là gì ? Các tội thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu
Dấu hiệu pháp lý và cách phân loại của các tội xâm phạm quyền sở hữu