Đa số các tội xâm phạm sở hữu là các tội có tính chất chiếm đoạt. Trong số 13 tội quy định trong chương XIV của Bộ luật hình sự của năm năm 1999 đã có tới 8 tội có tính chất chiếm đoạt, đó là các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm cưỡng đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản.

Dưới đây Công ty Luật Minh Khuê khái quát dấu hiệu pháp lý và cách phân loại các tội xâm phạm quyền sở hữu:

  Dấu hiệu pháp lý và cách phân loại của các tội xâm phạm quyền sở hữu ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

 

1. Dấu hiệu pháp lý các tội xâm phạm quyền sở hữu

Quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tập thể hoặc tài sản công dân gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản. Xâm phạm quyền sở hữu tài sản là hành vi xâm phạm các quyền thuộc nội dung sở hữu.

Các tội xâm phạm quyền sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quyền sở hữu nhà nước được thừa nhận.

Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm xâm phạm quyền sở hữu gồm khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan và chủ thể.

Khách thể của các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu là quyền sở hữu đối với tài sản, làm thiệt hại cho quyền chiếm hữu, quyền sử dụng hoặc quyền định đoạt tài sản. Những tài sản thuộc quyền sở hữu bao gồm: tài sản thuộc sở hữu nhà nước, tài sản thuộc sở hữu tập thể, tài sản đang tạm thời thuộc quyền quản lý của nhà nước, xí nghiệp quốc doanh, các hợp tác xã, tài sản công dân thuộc thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Mọi tài sản đều thể hiện dưới dạng vật, tiền, giấy tờ có giá trị tài sản.

Mặt khách quan của các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu thể hiện bằng các hành vi sau đây:

+ Hành vi chiếm đoạt tài sản: là hành vi chuyển dịch vị trí pháp lý của tài sản trái pháp luật, chuyển dịch quyền sở hữu hợp pháp của chủ thể sang chủ thể khác không đúng pháp luật. Hành vi chiếm đoạt được thực hiện bằng nhiều phương pháp, thủ đoạn khác nhau nhưng tất cả mọi hành vi chiếm đoạt đều thực hiện bằng phương pháp chủ động tích cực (phương pháp hành động), biến tài sản của người khác thành tài sản của mình.

+ Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản: là hành vi chiếm tài sản của chủ thể đã mất khả năng thực tế quản lý tài sản.

+ Hành vi sử dụng trái phép tài sản: là trường hợp xâm phạm quyền sử dụng tài sản một cách trái phép, khai thác giá trị sử dụng của tài sản mà không được phép của chủ tài sản.

+ Hành vi hủy hoại, làm hư hỏng tài sản, làm mất một phần hoặc toàn bộ giá trị tài sản.

Dấu hiệu hậu quả tác hại trong yếu tố khách quan của các tội phạm xâm phạm tài sản là mức độ thiệt hại nguy hại quy ra tiền. Để định tội cần chú ý coi trọng những quy định về giá trị tài sản bị gây thiệt hại, bị chiếm đoạt.

Mặt chủ quan các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu: phần lớn các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu tài sản được thực hiện do hình thức lỗi cố ý, có một số tội được thực hiện do vô ý, như: tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản và tội cố ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.

Chủ thể của các tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản là bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định chung.

 

2.  Cách phân loại của các tội xâm phạm quyền sở hữu

Các tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản được phân loại thành ba nhóm: các tội thực hiện bằng hành vi chiếm đoạt; các tội không có tính chất chiếm đoạt; các tội không có tính vụ lợi, không chiếm đoạt.

Các tội có tính chất chiếm đoạt gồm 9 tội sau đây:

  1. Tội cướp tài sản (điều 133);
  2. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (điều 134);
  3. Tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135);
  4. Tội cướp giật tài sản (điều 136);
  5. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (điều 137);
  6. Tội trộm cắp tài sản (điều 138);
  7. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139);
  8. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140);
  9. Tội chiếm giữ trái phép tài sản (điều 141);
  10. Tội không có tính chất chiếm đoạt nhưng vụ lợi là tội sử dụng trái phép tài sản (điều 142);

Các tội không có hành vi chiếm đoạt, không vụ lợi gồm 3 tội:

  1. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143);
  2. Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng tới tài sản của Nhà nước (điều 144);
  3. Tội thiếu vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng tới tài sản (điều 145).

 

3. Cấu thành tội phạm của tội cướp tài sản

Điều 133. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến  mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Khách thể của tội cướp giật tài sản

Trong tội cướp giật tài sản khách thể trực tiếp bị xâm hại là quan hệ sở hữu về tài sản mà đối tượng tác động là những tài sản nhỏ, gọn, dễ mang đi do tính chất của hành vi là nhanh chóng chiếm đoạt tài sản.

Chủ thể 

Chủ thể của tội cướp giật tài sản là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi nhất định thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Như vậy đối với cướp giật tài sản chủ thể của tội phạm trước hết bao gồm những người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự và những người từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt khách quan 

Đối với tội cướp giật tài sản, dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm chính là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng.

Hành vi công khai có nghĩa là người phạm tội không có ý thức che giấu hành vi phạm tội của mình và khi thực hiện việc chiếm đoạt cho phép chủ tài sản biết ngay có hành vi chiếm đoạt xảy ra. Hành vi chiếm đoạt thông thường là: giật lấy, giằng lấy, đoạt lấy...

Chiếm đoạt nhanh chóng có nghĩa là người phạm tội đã có thủ đoạn lợi dụng sơ hở của chủ tài sản hoặc phạm tội chủ động tạo ra sơ hở rồi nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đoạt và nhanh chóng tẩu thoát.

Mặt chủ quan 

Đối với tội cướp giật tài sản, mặt chủ quan của tội phạm gồm dấu hiệu lỗi, động cơ và mục đích phạm tội. Trong đó lỗi của người phạm tội cướp giật tài sản là lỗi cố ý trực tiếp. Động cơ của tội cướp giật tài sản được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách cố ý. Mục đích của tội cướp giật tài sản là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội.

 

4. Cấu thành tội phạm của tội cướp giật tài sản

- Cơ sở pháp lý: Điều 136 Bộ luật hình sự của năm 1999

Khách thể

Về khách thể của tội cướp giật tài sản là quan hệ sở hữu về tài sản (những tài sản nhỏ, gọn, dễ mang, cầm trên tay) do tính chất của hành vi là nhanh chóng chiếm đoạt tài sản.

Chủ thể

Về chủ thể của tội cướp giật tài sản: bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi nhất định thực hiện hành vi cướp giật tài sản (những người từ đủ 14 tuổi trở lên)

Mặt khách quan

Đối với tội cướp giật tài sản, dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm chính là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng.

Mặt chủ quan

Đối với tội cướp giật tài sản, mặt chủ quan của tội phạm gồm dấu hiệu lỗi, động cơ và mục đích phạm tội trong đó:

Người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.

Động cơ phạm tội là thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách cố ý.

Mục đích là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội.

 

5. Cấu thành tội phạm của tội trộm cắp tài sản

Chủ thể 

Về chủ thể của tội trộm cắp tài sản: bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi nhất định thực hiện hành vi cướp giật tài sản (những người từ đủ 14 tuổi trở lên)

Khách thể của tội phạm

Tội này xâm phạm đến quan hệ sở hữu.

Nếu sau khi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết hoặc làm bị thương người khác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khác.

Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác; lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, người quản lý tài sản, hoặc lợi dụng hoàn cảnh mà người quản lý tài sản không biết.

Có hậu quả xảy ra là tài sản bị chiếm đoạt thuộc một trong các trường hợp:

- Với những tài sản to lớn, cồng kềnh, người phạm tội phải chuyển được tài sản đó ra khỏi phạm vi cất giữ;

- Với tài sản không có nơi cất giữ riêng, người phạm tội phải đưa tài sản đó ra khỏi địa bàn (địa điểm phạm tội) thì mới hoàn thành;

- Ngoại lệ: tài sản từ 2 triệu đồng trở lên, nếu có giá trị rất lớn như ô tô, xe máy, máy tính... thì dù người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản thì vẫn bị coi là phạm tội.

Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm này được thực hiện bởi lỗi cố ý.

Mục đích của người phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản (dấu hiệu bắt buộc).

 

Trân trọng./.

Bộ phận luật sư hình sự - Công ty luật Minh Khuê