1. Giải thích từ ngữ

- Người quảng cáo là tổ chức, cá nhân có yêu cầu quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình hoặc bản thân tổ chức, cá nhân đó (khoản 5 Điều 3 Luật Quảng cáo số 16/2012/QH13).

- Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình quảng cáo theo hợp đồng cung ứng dịch vụ quảng cáo với người quảng cáo.

- Người phát hành quảng cáo là tổ chức, cá nhân dùng phương tiện quảng cáo thuộc trách nhiệm quản lý của mình giới thiệu sản phẩm quảng cáo đến công chúng, bao gồm cơ quan báo chí, nhà xuất bản, chủ trang thông tin điện tử, người tổ chức chương trình văn hóa, thể thao và tổ chức, cá nhân sử dụng phương tiện quảng cáo khác.

- Hoạt động cung cấp dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng trang thông tin điện tử kinh doanh dịch vụ quảng cáo từ hệ thống thiết bị cung cấp dịch vụ đặt ngoài lãnh thổ Việt Nam, cho người sử dụng tại Việt Nam, có phát sinh doanh thu tại Việt Nam.

- Trang thông tin điện tử kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Nghị định này là hệ thống thông tin sử dụng một hoặc nhiều trang thông tin điện tử dưới dạng ký hiệu, số, chữ viết, hình ảnh, âm thanh và các dạng thông tin khác nhằm cung cấp cho người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, trao đổi thông tin, chia sẻ âm thanh, hình ảnh, tạo diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến để cung cấp dịch vụ quảng cáo.

2. Quy định đối với hoạt động cung cấp dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam

Khoản 1 Điều 1 Nghị định 70/2021/NĐ-CP đã giải thích từ ngữ chi tiết và đồng thời đưa ra những quy định mới liên quan đến điều kiện đối với cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam. Theo Nghị định mới, 15 ngày trước khi bắt đầu kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam, các tổ chức, cá nhân nước ngoài gửi thông báo trực tiếp, hoặc qua đường bưu chính, hoặc qua phương tiện điện tử đến Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông.

Cụ thể, phải thông báo những nội dung sau:

- Tên tổ chức, tên giao dịch, địa chỉ trụ sở chính nơi đăng ký hoạt động cung cấp dịch vụ quảng cáo; địa điểm đặt hệ thống máy chủ chính cung cấp dịch vụ và hệ thống máy chủ đặt tại Việt Nam (nếu có);

- Đầu mối liên hệ: Tên tổ chức, cá nhân đại diện tại Việt Nam (nếu có), địa chỉ email, điện thoại liên hệ.

Khoản 2 Điều 14 Nghị định 181/2013/NĐ-CP hiện hành cũng quy định trước khi thực hiện quảng cáo 15 ngày, chủ trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam phải thông báo bằng văn bản. Tuy nhiên, là thông báo cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về thông tin của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo Việt Nam được ủy quyền thực hiện dịch vụ quảng cáo và ngành nghề chính của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo được ủy quyền thực hiện. Như vậy có thể thấy ở đây, Nghị định mới đã công nhận tư cách của các cá nhân, tổ chức nước ngoài cung cấp dịch vụ chứ không phải thông qua người ủy quyền như ở Nghị định 181/2013/NĐ-CP.

3. Xử lí vi phạm quảng cáo đối với các cá nhân, tổ chức nước ngoài cung cấp dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới

Đồng thời với việc đưa ra quy định rõ ràng về các cá nhân, tổ chức nước ngoài thực hiện dịch vụ quảng cáo tại Việt Nam, Nghị định mới cũng đưa ra những biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với các cá nhân, tổ chức này. Cụ thể, Điều 14 của Nghị định 181/2013/NĐ-CP quy định về điều kiện hoạt động quảng cáo của tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo tại Việt Nam đã được sửa đổi thành quy định trách nhiệm quản lý đối với hoạt động cung cấp dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới.

Cụ thể, các Bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm phát hiện và xác định các quảng cáo xuyên biên giới vi phạm pháp luật theo thẩm quyền được phân công tại các quy định pháp luật về quản lý và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quảng cáo, Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan tiếp nhận các thông báo về quảng cáo xuyên biên giới vi phạm pháp luật. Sau khi tiếp nhận bằng chứng quảng cáo xuyên biên giới vi phạm pháp luật, trong thời hạn 05 ngày, Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm rà soát, kiểm tra nội dung vi phạm và gửi yêu cầu xử lý bằng văn bản hoặc qua phương tiện điện tử cho tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới.

sau khi nhận được yêu cầu từ Bộ Thông tin và Truyền thông, trong thời gian 24 giờ, tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới phải thực hiện việc xử lý quảng cáo vi phạm theo yêu cầu. Thông tin về các quảng cáo vi phạm đã được gửi cho tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới để xử lý sẽ được thông báo công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Thông tin và Truyền thông. Nếu không xử lý đúng thời hạn mà không có lý do chính đáng, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ thực thi các biện pháp ngăn chặn quảng cáo vi phạm pháp luật.

Đặc biệt, trường hợp phát hiện quảng cáo xuyên biên giới vi phạm pháp luật ảnh hưởng đến an ninh quốc gia Việt Nam, cơ quan chức năng có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện ngay các biện pháp ngăn chặn quảng cáo vi phạm pháp luật. Biện pháp ngăn chặn chỉ được gỡ bỏ sau khi các quảng cáo vi phạm đã được tổ chức, cá nhân nước ngoài xử lý theo yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông.

4. Xử lý vi phạm đối với quảng cáo

4.1. Thời gian bỏ qua quảng cáo trên các trang thông tin điện tử

Điểm b khoản 2 Điều 38 Nghị định 38/2021/NĐ-CP quy định, phạt tiền từ 10 - 15 triệu đồng nếu thời gian chờ tắt hoặc mở quảng cáo không ở vùng cố định trên báo điện tử và trang thông tin điện tử quá 1,5 giây.

Tức là đồng nghĩa với việc cho phép người dùng nhấn nút bỏ qua quảng cáo (skip ad) trong 1,5 giây. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng điều này không mới, trước đây, đã được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Quảng cáo năm 2012: “Đối với những quảng cáo không ở vùng cố định, phải thiết kế để độc giả có thể chủ động tắt hoặc mở quảng cáo, thời gian chờ tắt hoặc mở quảng cáo tối đa là 1,5 giây”.

Khoản 3 Điều 55 Nghị định 158/2013/NĐ-CP cũng quy định: Phạt tiền từ 10 - 15 triệu đồng đối với hành vi “thời gian chờ tắt hoặc mở quảng cáo không ở vùng cố định vượt quá 1,5 giây”. Như vậy, quy định này đã có từ lâu và được áp dụng ổn định trước khi Nghị định 38/2021 có hiệu lực.

4.2. Được quảng cáo các sản phẩm đặc biệt trong khung giờ vàng 

Quảng cáo băng vệ sinh, bao cao su, thuốc chữa bệnh ngoài da, thuốc tẩy giun sán, dung dịch vệ sinh phụ nữ và các loại sản phẩm hàng hóa tương tự trên đài phát thanh, đài truyền hình trong khoảng thời gian từ 18h - 20h hàng ngày sẽ bị phạt tiền từ 30 - 50 triệu đồng (theo điểm b khoản 2 Điều 58 Nghị định 158). Ngoài ra, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi.

Tuy nhiên, kể từ ngày 01/6/2021, Nghị định 38 không quy định xử phạt hành chính đối với hành vi nêu trên. Điều này có nghĩa là được phép quảng cáo băng vệ sinh, bao cao su, thuốc chữa bệnh ngoài da, thuốc tẩy giun sán, dung dịch vệ sinh phụ nữ và các loại sản phẩm hàng hóa tương tự trên đài phát thanh, đài truyền hình trong khoảng thời gian từ 18h - 20h.

4.3. Phạt 70 triệu đồng đối với quảng cáo thuốc hết hạn lưu hành

Đây là quy định hoàn toàn mới tại Nghị định 38/2021, theo đó, quảng cáo thuốc không còn thời hạn đăng ký lưu hành sẽ bị phạt tiền từ 50 - 70 triệu đồng, đồng thời, buộc tháo gỡ, tháo dỡ, xóa quảng cáo hoặc thu hồi sản phẩm báo, tạp chí in có quảng cáo vi phạm (điểm d khoản 1, khoản 3 Điều 33). Nghị định 158/2013/NĐ-CP hiện nay không quy định về mức phạt đối với hành vi này.

5. GIải pháp kiểm soát và loại bỏ nội dung vi phạm

Đây là yêu cầu mới được quy định tại Nghị định 70/2021/NĐ-CP. Cụ thể, người phát hành quảng cáo, người quảng cáo khi tham gia giao kết hợp đồng với người kinh doanh dịch vụ quảng cáo (bao gồm tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước cung cấp dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới) có quyền và nghĩa vụ:

- Yêu cầu người kinh doanh dịch vụ quảng cáo không đặt sản phẩm quảng cáo vào nội dung vi phạm pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật An ninh mạng, Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ;

- Yêu cầu người kinh doanh dịch vụ quảng cáo có giải pháp kỹ thuật để người phát hành quảng cáo, người quảng cáo tại Việt Nam có thể kiểm soát và loại bỏ các sản phẩm quảng cáo vi phạm pháp luật Việt Nam trên hệ thống cung cấp dịch vụ.

Đồng thời, các cá nhân, tổ chức nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam có quyền và nghĩa vụ:

- Thực hiện việc ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật theo yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng có thẩm quyền theo quy định tại Điều 14, Nghị định này; cung cấp thông tin về tổ chức, cá nhân liên quan tới hoạt động quảng cáo xuyên biên giới có dấu hiệu vi phạm pháp luật cho các cơ quan chức năng có thẩm quyền khi có yêu cầu.

Hiện nay, Điều 13 Luật Quảng cáo và Nghị định 181 đều không quy định yêu cầu này đối với người kinh doanh dịch vụ quảng cáo. 

6. Đại lý quảng cáo Việt Nam phải báo cáo định kỳ trước 31/12 hàng năm

Theo Nghị định 70/2021/NĐ-CP, Bộ Thông tin và Truyền thông là đầu mối quản lý về hoạt động quảng cáo xuyên biên giới.

Hiện nay, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo khi thực hiện các hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam có trách nhiệm gửi báo cáo định kỳ 6 tháng/lần về hoạt động thực hiện dịch vụ quảng cáo cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nơi người kinh doanh dịch vụ quảng cáo đặt trụ sở chính theo mẫu do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định hoặc báo cáo đột xuất theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Song, từ ngày 15/9/2021, Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo trong nước thường được gọi là đại lý (agency) quảng cáo có hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam thực hiện:

- Báo cáo định kỳ hàng năm trước ngày 31/12 hoặc;

- Báo cáo đột xuất khi có yêu cầu về hoạt động cung cấp dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam cho Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông.

Báo cáo được thực hiện theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị định này, có thể gửi trực tiếp, qua đường bưu chính hoặc qua mail, fax.

 

Trên đây là nội dung tổng hợp của Công ty đối với những điểm mới trong pháp luật về quảng cáo. Trường hợp trong nội dung có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bài viết khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê