NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ TỘI PHẠM THAM NHŨNG CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015 SO VỚI BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999

 

1 . Quy định về phần chung liên quan đến phòng chống tham nhũng

a) Về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Để tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm thạm, thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước trong việc xử lý đến cùng tội phạm tham nhũng, Điều 28 Bộ Luật hình sự năm 2015 bổ xung trường hợp không áp dụng thời hiệu đối với tội tham ô tài sản và tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 353. Đối với các trường hợp này, bất kể thời điểm nào phát hiện được tội phạm là có thể xử lý.

Khoản 3 Điều 28 Bộ Luật hình sự 2015 quy định: “Tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353 của Bộ luật này; tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 354 của Bộ luật này.”

b) Về hình phạt tử hình.

Nhằm hạn chế việc áp dụng hình phạt tử hình trên thực tế, đồng thời khuyến khích người phạm tội tham nhũng có thể khắc phục hậu quả để hưởng chính sách khoan hồng. theo đó, điểm c khoản 3 Điều 40 Bộ Luật hình sự 2015 quy định: “Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.”

  Theo đó, người tham ô tài sản, nhận hối lộ mà bị kết án tử hình nếu như đáp ứng đủ hai điều kiện là nộp lại ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ đồng thời phối hợp tích cực với cơ quan chức năng thì được ân giảm, từ tử hình xuống thành tù chung thân theo như khoản 4  Điều này: “Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân.”

 

2. Những quy định cụ thể về phòng chống tham nhũng 

a) Mở rộng phạm vi tội phạm tham nhũng ra khu vực tư, mở rộng nội hàm về của hối lộ của tội phạm tham nhũng.

>> Xem thêm:  Tố tụng hình sự là gì ? Phân tích nhiệm vụ của luật tố tụng hình sự ?

Trong bối cảnh ngành kinh tế tư nhân đang ngày càng phát triển và giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, để giải quyết được những bất cập trong quy định về hành vi chiếm đoạt tài sản trong các tổ chức, doanh nghiệp ngoài Nhà nước, cũng như nhằm đáp ứng những đòi của Việt Nam hiện nay trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, bảo đảm sự tương thích với UNCAC thì việc quy định các hành vi tham nhũng trong khu vực tư là hết sức cần thiết, theo đó người có chức vụ, quyền hạn thuộc các thành phần ngoài nhà nước mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi phạm tội vì vụ lợi (ví dụ hành vi nhận tiền hối lộ của người có thẩm quyền trong lĩnh vực tư nhân) phải được xác định là hành vi tham nhũng để có chính sách xử lý thống nhất và phù hợp.

Định nghĩa người có chức vụ quyền hạn đã mở rộng phạm vi áp dụng của tội phạm về tham nhũng, qua đó xóa bỏ các tranh cãi còn tồn tại về việc áp dụng các tội về tham nhũng trong khu vực tư và trong các doanh ngiệp có vốn Nhà nước. Mặc dù chỉ thay đổi không lớn về mặt từ ngữ, song việc bổ xung “nhiệm vụ” (tại các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước), bên cạnh “công vụ” (đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống các cơ quan Nhà nước) theo quy định cũ tại BLHS 1999 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh của BLHS đến một nhóm chủ thể lớn hơn. Nhiệm vụ là một khái niệm mở, có phạm vi lớn và có thể sử dụng trong tất cả các lĩnh vực, đó không chỉ là mở rộng lĩnh vực áp dụng sang lĩnh vực ngoài công vụ mà còn mở rộng phạm vi áp dụng đối với những người làm việc trong cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ tạm thời, không ổn định:

“Điều 352. Khái niệm tội phạm về chức vụ

1. Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.

2. Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”.

BLHS năm 2015 giới hạn phạm vi các tội phạm về chức vụ trong khu vực ngoài nhà nước chỉ đối với 04 tội danh: Tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, tội đưa hối lộ và tội môi giới hối lộ. Cụ thể là khoản 6 Điều 353 (tội tham ô tài sản) quy định "Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này"; khoản 6 Điều 354 (tội nhận hối lộ) quy định "Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này"; khoản 6 Điều 364 (tội đưa hối lộ) quy định "Người nào đưa hoặc sẽ đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này"; khoản 7 Điều 365 (tội môi giới hối lộ) quy định "Người nào mà môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này".

Như vậy, khi Bộ Luật hình sự 2015 có hiệu lực, các vấn đề như cơ quan, tổ chức có hoạt động đúng đắn bị xâm hại; chế độ sở hữu tài sản là đối tượng tác động của tội phạm; sự bắt buộc thỏa mãn đồng thời yếu tố chức vụ và quyền hạn; những chủ thể được coi là có chức vụ sẽ không còn gây khó khăn, vướng mắc nữa.

Sự thay đổi định nghĩa người có chức vụ đã dẫn đến những thay đổi lớn, căn bản về phạm vi áp dụng của các tội phạm về chức vụ nói chung. Với một phạm vi áp dụng mang tính khái quát như vậy sẽ cần có văn bản hướng dẫn trong thời gian tới, song việc giải thích hướng dẫn sẽ không bị gò bó do quy định của luật gốc, rõ ràng, dễ hiểu và có thể quy định phù hợp với thực tiễn cũng như yêu cầu phòng chống tội phạm, dễ dàng thay đổi theo tình hình thực tế. Mặt khác, phạm vi áp dụng rộng sẽ tránh bỏ lọt tội phạm, xóa bỏ các quan điểm về phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, hạn chế việc xuất hiện các quan điểm trái chiều.

Bộ Luật hình sự năm 1999 có quy định, để có thể xử lý được người phạm tội thì của hối lộ trong các cấu thành tội phạm phải là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá được bằng tiền. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy bên cạnh việc dùng tiền hay lợi ích vật chất khác để hối lộ người có chức vụ quyền hạn thì lợi ích tinh thần bao gồm nhiều hình thức khác nhau có thể mang lại giá trị về mặt tinh thần cho người thụ hưởng cũng được các đối tượng sử dụng để hối lộ nhằm đạt được mục đích của mình. Đây cũng là yêu cầu của UNCAC, các quốc gia thành viên phải quy định rõ ràng về của hối lộ hoặc những thiệt hại do tham nhũng gây ra là những lợi ích bất chính, tồn tại dưới bất kỳ hình thứ nào, vô hình hoặc hữu hình, vật chất hoặc tinh thần, tiền tệ hoặc phi tiền tệ. Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn cũng như bảo đảm thực thi UNCAC, Bộ Luật hình sự năm 2015 đã bổ xung “lợi ích phi vật chất” vào các cấu thành định tội đối với Tội nhận hối lộ Điều 354; Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi Điều 358; Tội đưa hối lộ Điều 364; Tội môi giới hối lộ Điều 365 và Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi  Điều 366.

b) Bổ xung, sửa đổi một số dấu hiệu định tội, định khung của tội phạm tham nhũng.

Theo quy định của Bộ Luật hình sự năm 1999 thì giá trị tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác là một trong các tình tiết định tội, định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự cơ bản của hầu hết các chức vụ. Tuy nhiên, có thể thấy Bộ Luật hình sự năm 1999 chưa có sự phân hóa phù hợp về giá trị tài sản và mức hình phạt trong khung, cũng như chưa bảo đảm mức độ tương xứng giữa giá trị tài sản và mức hình phạt trong khung, cũng chưa phù hợp với tình hình phát tiển kinh tế - xã hội ở Việt Nam cũng như thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, để phù hợp với thực tiễn của nước ta hiện nay, cần phải bảo dảm mức độ tương xứng giữa hình phạt với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội khi căn cứ vào giá trị tiền, tài sản của hành vi.

Chính vì vậy, Bộ Luật hình sự 2015 có quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt lớn hơn quy định tại Bộ Luật hình sự 1999, BLHS năm 2015 đã nâng mức định lượng về giá trị tiền, tài sản tại các điều khoản có liên quan. Theo quy định của Bộ Luật hình sự 2015 thì tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 1 tỷ đồng trở lên mới bị áp dụng khung hình phạt có hình phạt cao nhất là tử hình (theo quy định tại Bộ Luật hình sự 1999 là 500 triệu đồng). Giá trị tỷ đồng có lẽ vẫn thấp so với những vụ án tham ô tài sản lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng, tuy nhiên, mức quy định như vậy cũng thể hiện phần nào sự nghiêm khắc của pháp luật đối với hành vi tham ô tài sản.

c) Bổ xung các tình tiết tăng nặng định khung.

>> Xem thêm:  Cơ quan điều tra là gì ? Cơ quan nào có thẩm quyền điều tra hình sự ?

Yếu tố hậu quả “khác” trong quy định của Bộ Luật hình sự 1999 được Bộ Luật hình sự 2015 cụ thể hóa thành các thiệt hại định lượng bằng tiền và các hậu quả khác như ảnh hưởng xấu tới đời sống cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội; dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động và những hậu quả chắc chắn do xảy ra hành vi chiếm đoạt tiền, tài sản dùng để xóa đói giảm nghèo,…

Cách quy định như vậy khá rõ ràng, dễ hiểu, dễ áp dụng và cũng dự liệu một cách tương đối các hậu quả khác có thể xảy ra. Tuy quy định cứng như vậy sẽ có thể bỏ sót một số trường hợp có thể xảy ra, có thể dẫn đến thiếu cơ sở định hình phạt nặng tương xứng với hành vi nhưng sẽ bảo đảm sự áp dụng hiệu quả, thống nhất trên thực tế, hạn chế gây tranh cãi và đây đều là các hậu quả có thể xác định trên thực tế nên bảo đảm tính khả thi, tránh tình trạng quy định chỉ nằm trên giấy.

d) Áp dụng trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước, công chức nước ngoài, công chức của các tổ chức quốc tế công.

Đây là vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất trong thực tiễn áp dụng Bộ Luật hình sự1999 về tội tham ô tài sản, gây lung túng, khó khăn cho các cơ quan tố tụng. Bộ Luật hình sự 2015 đã dành riêng khoản 6 Điều 353, Điều 354 để quy định:

“Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này”.

Như vậy, Bộ Luật hình sự 2015 đã quy định một cách cụ thể, dễ hiểu và không thể rõ ràng hơn về phạm vi áp dụng của tội phạm tham nhũng trong khu vực tư. Quy định này sẽ tránh bỏ lọt tội phạm, đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và thể hiện thái độ kiên quyết đấu tranh chống tham ô tài sản của Đảng và Nhà nước ta.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta thông qua các hoạt động hợp tác, hỗ trợ,…Việc các nhân, tổ chức trong nước thực hiện hành vi hối lộ công chức của Cính phủ, cơ quan, tổ chức, cá nhân, doanh nhiệp nước ngoài để dành được lợi thế kinh doanh, đầu tư,…là hoàn toàn có thể xảy ra. Điều này cũng đã được chứng minh qua thực thiễn đấu trang phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, Bộ Luật hình sự năm 1999 chưa đề cập đến vấn đề hối lộ công chức nước ngoài hoặc công chức của tổ chức phi Chính phủ nên việc xử lý gặp nhiều khó khăn. Để đảm bảo sự cạnh tranh công bằng, lành mạnh trong xã hội và gìn giữ quan hệ với các nước cũng như  đảm bảo yêu cầu của UNCAC, Bộ Luật hình sự năm 2015 đã bổ xung chính sách xử lý đói với hành vi đưa hối lộ công chức nước ngoài, công chức tổ chức quốc tế công tại khỏan 6 Điều 364 như sau: Người nào đưa hoặc sẽ đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này”.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê 

>> Xem thêm:  Mẫu đơn bãi nại vụ án hình sự, giảm nhẹ hình phạt mới nhất 2021