1. Nguyên tắc xử lý tội phạm tham nhũng, tội phạm khác về chức vụ
Việc xử lý tội phạm tham nhũng và tội phạm liên quan đến việc lạm dụng chức vụ phải được thực hiện theo nguyên tắc nghiêm khắc và tuân thủ pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự. Theo đó thì khi xử lý tội phạm tham nhũng thì cần phải tuân thủ một cách nghiêm khắc và triệt để các quy đinh của Bộ luật Hình sự 2015 và Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Một số nguyên tắc có thể liệt kê đến như là:
Về "bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật" là một phần quan trọng trong Bộ luật Hình sự của Việt Nam. Điều này đảm bảo rằng tất cả mọi người, bất kể dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội của họ, đều có quyền được đối xử bình đẳng trước pháp luật. Nó cũng áp dụng cho cả pháp nhân, không phân biệt loại hình sở hữu và thành phần kinh tế. Nguyên tắc này thể hiện tính công bằng và sự bảo vệ quyền con người trong tất cả các khía cạnh của tố tụng hình sự. Việc không phân biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc, hay bất kỳ yếu tố nào khác trong quá trình xét xử đảm bảo rằng mọi người đều có quyền được nghe và tham gia vào tất cả các khía cạnh của tố tụng một cách công bằng. Điều này có thể bao gồm quyền bào chữa, quyền gửi đơn khiếu nại, và quyền được xem xét công bằng bởi tòa án. Việc thực hiện nguyên tắc này là quan trọng để đảm bảo tính công bằng và đáng tin cậy của hệ thống tố tụng hình sự và để ngăn chặn bất kỳ loại kỳ thị hay phân biệt đối xử nào dựa trên dân tộc, giới tính, tôn giáo, hay bất kỳ yếu tố nào khác. Nó cũng đảm bảo rằng mọi người đều có quyền được bảo vệ khỏi sự sai trái và phạm tội mà họ có thể gặp phải.
Hay là quy định về suy đoán vô tội, theo đó thì tại Điều 13 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 có quy định như sau: Nguyên tắc "Suy đoán vô tội" là một phần quan trọng của quy trình tố tụng hình sự và là một nguyên tắc cơ bản trong nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới. Theo nguyên tắc này, người bị buộc tội được coi là vô tội cho đến khi có bằng chứng đủ mạnh và cơ quan tố tụng tuân theo quy trình và thủ tục được quy định bởi pháp luật để chứng minh tội danh của họ. Chỉ khi Tòa án đưa ra một bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì người bị buộc tội mới được coi là đã phạm tội. Tuy nhiên, trong trường hợp không đủ bằng chứng hoặc không thể chứng minh tội danh của người bị buộc tội theo quy định và thủ tục của pháp luật, cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận rằng người bị buộc tội không có tội. Điều này đảm bảo rằng nguyên tắc "Suy đoán vô tội" không chỉ là nguyên tắc trên giấy, mà còn được thực thi trong thực tế để đảm bảo rằng người bị buộc tội không bị kỳ thị hoặc truy cứu một cách bất công. Nguyên tắc "Suy đoán vô tội" là một phần quan trọng của quyền tự do và công bằng trong quy trình tố tụng hình sự, đảm bảo rằng mọi người có quyền được bảo vệ khỏi buộc tội một cách vô lý hoặc không có căn cứ.
2. Không áp dụng mức cao nhất của khung hình phạt mà người bị truy tố xét xử khi nào?
Trong quá trình tố tụng, nếu người phạm tội đã thực hiện các hành vi sau đây:
- Tự nguyện nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản mà họ đã tham ô hoặc nhận hối lộ.
- Họ đã hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm. Nếu người phạm tội đã hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm, thì họ đang thể hiện sự hợp tác và chủ động hỗ trợ quá trình làm sáng tỏ tội phạm. Điều này có thể bao gồm việc cung cấp thông tin, chứng cứ hoặc tham gia vào cuộc truy tố để làm rõ sự việc. Hành vi hợp tác này có thể được xem xét khi quyết định về việc xử lý hình phạt cho người phạm tội.
- Họ đã đóng góp vào việc lập công lớn hoặc làm cho xã hội có lợi trong một khía cạnh nào đó. Nếu người phạm tội đã đóng góp vào việc lập công lớn hoặc làm cho xã hội có lợi trong một khía cạnh nào đó, điều này có thể được xem xét khi quyết định về việc xử lý hình phạt của họ.
Trong trường hợp này, họ sẽ không bị áp dụng mức cao nhất của khung hình phạt mà người phạm tội bị truy tố hoặc xét xử. Thay vào đó, hình phạt có thể được giảm xuống đối với họ dựa trên việc thực hiện các hành vi tích cực và hợp tác trong quá trình tố tụng. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khuyến khích người phạm tội hợp tác và trở thành một phần của quá trình xác minh tội phạm và đảm bảo công lý.
3. Xem xét áp dụng chính sách khoan hồng đặc biệt
Xem xét áp dụng chính sách khoan hồng đặc biệt miễn hình phạt theo quy định tại Điều 59 của Bộ luật Hình sự đối với trường hợp người phạm tội có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự hoặc người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Nếu người phạm tội không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, mà chỉ vì muốn đổi mới, dám đột phá vì sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ Tổ quốc, thì theo quy định của Bộ luật Hình sự, cơ quan tố tụng và tòa án có thể xem xét áp dụng chính sách khoản hồng đặc biệt miễn hình phạt. Điều này có thể dẫn đến giảm nhẹ hoặc miễn hình phạt đối với người phạm tội, tùy theo quyết định của cơ quan tố tụng và tòa án, nhằm thể hiện sự công bằng và tính nhân đạo trong quá trình xử lý tội phạm.
- Nếu người phạm tội là người có quan hệ lệ thuộc (như cấp dưới đối với cấp trên, người làm công hưởng lương, chấp hành nhiệm vụ theo chỉ đạo của cấp trên), không ý thức được đầy đủ hành vi phạm tội của mình, không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, và đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần có hiệu quả vào việc điều tra, xử lý tội phạm, thì theo quy định, cơ quan tố tụng và tòa án có thể xem xét áp dụng chính sách khoản hồng đặc biệt miễn hình phạt. Theo quy định này thì người phạm tội ở đây là người có quan hệ lệ thuộc vào người khác và làm công hưởng lương thực hiện theo chỉ đạo của các cấp trên, do đó thì họ là một cá nhân không ý thức được đầy đủ các hành vi phạm tội của mình và họ thực hiện hành vi này không vì mục đích vụ lợi hoặc một động cơ cá nhân nào khác
- Trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia, như Việt Nam, có một số quy định về việc người phạm tội khai báo trước khi bị phát hiện, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần hạn chế thiệt hại, chủ động nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra. Thường thì những hành động này có thể ảnh hưởng đến quá trình xem xét và xử lý hình phạt của người phạm tội. Trong một số trường hợp, việc người phạm tội chủ động khai báo và hợp tác có thể được xem xét làm căn cứ để giảm nhẹ hình phạt hoặc tình nghi về hình phạt, nhất là khi có sự cảm thấy hối hận và mong muốn sửa chữa hậu quả. Tuy nhiên, điều này thường phụ thuộc vào quyết định của cơ quan thụ động và tòa án.
- việc người phạm tội chủ động thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chủ động nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại có thể được xem xét khi xử lý hình phạt. Theo đó thì theo nguyên tắc xử lý đối với tội phạm tham nhũng, tội phạm khác về chức vụ thì có quy định về việc đó là bản thân người phạm tội sau khi mà bị phát hiện đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và chủ động nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại
Vui lòng liên hệ 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn. Tham khảo thêm: Tham nhũng là gì? Các loại tội phạm về tham nhũng