1. Quy định chung về việc áp dụng thủ tục thanh lý tài sản
Các cố gắng vực dậy doanh nghiệp, Hợp tác xã lâm vào tình ttạng phá sản bằng thủ tục khôi phục hoạt động kinh doanh thường ít khi thành công; nhiều khi người ta phải chấp nhận một thực tế là “đã hết thuốc chữa” Giờ đây mục tiêu duy nhất của thủ tục phá sản là thanh toán nợ. Doanh nghiệp, Hợp tác xã phải bị khai tử, tích sản của họ sẽ được dùng để trả nợ, ít nhất cũng một phần nợ.
Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản có thể ra quyết định áp dụng thủ tục thanh lý tài sản trong mọi giai đoạn của thủ tục: trước hay sau Hội nghị chủ nự lần thứ nhất, ngay cả sau khi đã có quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, Hợp tác xã lâm vào tình ưạng phá sản. Trong giai đoạn thanh lý, doanh nghiệp, Hợp tác xã bị giải thể, nhưng pháp nhân của họ vẫn tồn tại để phục vụ cho việc thanh lý; việc quản lý hoạt động của doanh nghiệp, Hợp tác xã chịu nhiều sự thay đổi và chỉ nhằm mục đích duy nhất là thanh toán nợ,
2. Các trường hợp áp dụng thủ tục thanh lý tài sản
Đối với Doanh nghiệp Nhà nước lâm vào tình trạng phá sản, nếu sau khi được Nhà nước áp dụng các biện pháp đặc biệt để phục hồi kinh doanh mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ, thì Toà án ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp mà không cần phải triệu tập Hội nghị chủ nợ để xem xét và quyết định việc áp dụng thủ tục phục hồi.
Ngoài trường hợp đặc biệt trên đây, theo thủ tục áp dụng chung cho các doanh nghiệp, Hợp tác xã, Thẩm phán chỉ có thể ra quyết định áp dụng thủ tục thanh lý tài sản trong các trường hợp sau:
- Hội nghị chủ nợ không họp được: Việc áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động của doanh nghiệp, Hợp tác xã bắt buộc phải được Hội nghị chủ nợ thông qua; nếu Hội nghị không họp được thì phải bỏ qua biện pháp này và tiến hành thủ tục thanh lý tài sản.
- Hội nghị không họp được khi:
+ Chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, Hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không tham gia Hội nghị mà không có lý do chính đáng. Trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là chủ nợ hay người lao động, Thẩm phán sẽ cho hoãn phiên họp để triệu tập lại lần thứ hai, nếu lần này mà Chủ doanh nghiệp hay đại diện người lao động vẫn không tham dự thì Hội nghị chủ nợ coi như không thành và Thẩm phán sẽ tiến hành thủ tục thanh lý tài sản.
+ Hội nghị không đủ túc số luật định sau khi đã được triệu tập lần thứ hai (quá nửa số, chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho ít nhát 2/3 số nợ không có bảo đảm). Trường hợp này chỉ áp dụng nếu người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là doanh nghiệp, Hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ; cổ đông Công ty cổ phần; Thành viên hợp danh Công ty hợp danh. Đa số các chủ nợ không bảo đảm không tham gia Hội nghị chứng tỏ rằng họ không muôn kéo dài thủ tục phá sản và chỉ cần được thanh toán nợ càng sớm càng tốt.
- Doanh nghiệp, Hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không xây dựng được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, hoặc Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án này: Sau khi Hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết đồng ý vơi giải pháp phục hồi hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp, Hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có thời hạn 30 ngày để xây dựng phương án phục hồi và nộp cho Toà án. Nếu cần có thời gian dài hơn thì phải có văn bản đề nghị Thẩm phán cho gia hạn không quá 30 ngày. Sau khi nhận được phương án phục hồi, Toà án phải triệu tập Hội nghị chủ nợ để biểu quyết thông qua phương án này.
Nếu doanh nghiệp, Hợp tác xã không lập được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh trong thời hạn quy định, hoặc nếu Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án này thì Thẩm phán phụ ưách thủ tục phá sản phải tiến hành thủ tục tiếp theo là thanh lý tài sản.
- Doanh nghiệp, Hợp tác xã thực hiện không đúng hoặc không thực hiện được phương án phục hồi: Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh có thể coi là một hợp đồng giữa các chủ nợ và doanh nghiệp, Hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, theo đó các chủ nợ chấp nhận một vài thiệt thòi (giảm nợ, giãn nợ) vơi điều kiện doanh nghiệp, Hợp tác xã phải thực hiện đúng và đủ những gì cam kết trong phương án. Nếu doanh nghiệp, Hợp tác xã không thực hiện đúng hoặc không thực hiện được phương án này thì coi như đã vi phạm hợp đồng, các cam kết của chủ nợ bị hủy bỏ, và Toà án phải tiến hành thủ tục thanh lý tài sản. Dĩ nhiên khi gặp khó khăn trong việc thi hành phương án phục hồi, doanh nghiệp, Hợp tác xã có thể đề nghị các chủ nợ cho sửa đổi phương án. Đề nghị sửa đổi phải được đưa ra Hội nghị chủ nợ do Toà án triệu tập để xem xét và quyết định; nếu Hội nghị thông qua nghị quyết đồng ý sửa đổi thì phương án phục hồi được tiếp tục thi hành.
3. Khiếu nại, kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản (Điều 112 Luật Phá sản 2014)
Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của Toà án kết thúc đời sông của doanh nghiệp, Hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Khi quyết định như vậy Toà án đã chọn giải pháp hy sinh quyền lợi của doanh nghiệp, Hợp tác xã (trong đó có người lao động sẽ bị sa thải) để bảo vệ quyền lợi của chủ nợ. Một quyết định như thế tất nhiên có thể không làm vừa lòng một số người liên quan, do đó những người này phải có quyền khiếu nại chống lại quyết định đó.
- Những ai có quyền khiếu nại. Trước hêt là doanh nghiệp, Hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý. Tổ chức này bị khai tử nên cũng phải cho họ có “lời nói cuối cùng”. Các chủ nợ cũng có quyền khiếu nại bởi vì việc ra quyết định thanh lý trong điều kiện không thích hợp hoặc vội vã có thể khiến họ không thu hồi được nợ hay chỉ thu hồi được một tỷ lệ ít ỏi.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị nếu xét thấy việc áp dụng thủ tục thanh lý có thể gây hậu quả xấu cho xã hội nếu số công nhân bị sa thải quan trọng.
Những người thiếu nợ doanh nghiệp, Hợp tác xã cũng có quyền khiếu nại bởi vì số nợ của họ sẽ được bao gồm trong tích sản của doanh nghiệp, Hợp tác xã để phân chia cho các chủ nợ; trong quá trình thanh lý các số nợ này phải được thanh toán.
- Thời hạn khiếu nại, kháng nghị Thời hạn khiếu nại kháng nghị là 20 ngày kể từ ngày cuối cùng đăng báo về nghị quyết mở thủ tục thanh lý tài sản. Như vậy, quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản cũng như quyết định mở thủ tục phá sản phải được đăng trên báo địa phương và báo hàng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp. Ngày đăng báo cuối cùng sẽ là ngày khởi lưu thời hạn khiếu nại, kháng nghị.
- Giải quyết khiếu nại, kháng nghị Toà án có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, kháng nghị là Toà cấp trên trực tiếp của Toà án đã ra quyết định mở thủ tục thanh lý.
Ngay khi nhận được hồ sơ kèm theo khiếu nại, kháng nghị do Toà đã ra quyết định thanh lý gửi lên, Chánh án Toà cấp trên trực tiếp chỉ định một tổ gồm ba Thẩm phán xem xét, giải quyết khiếu nại, kháng nghị.
Trong thời hạn 60 ngày, tổ Thẩm phán phải ra một ữong các nghị quyết sau đây:
+ Bác bỏ khiếu nại, kháng nghị;
+ Sửa quyết định mở thủ tục thanh lý của Toà án cấp dưđi;
+ Hủy quyết định mở thủ tục thanh lý của Toà cấp dưói, và yêu cầu Toà này tiếp tục tiến hành thủ tục phục hồi hoạt động kịnh doanh.
Quyết định của Toà án cấp trên giải quyết việc khiếu nại, kháng nghị là quyết định cuôì cùng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
4. Hoạt động của doanh nghiệp, Hợp tác xã trong quá trình thanh lý tài sản
Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản dẫn đến hậu quả là doanh nghiệp, Hợp tác xã bị giải thể; pháp nhân của tổ chức này tồn tại do nhu cầu của việc thanh lý. Tất cả những biện pháp quản lý, giám sát được áp dụng trước đây trong quá trình từ khi mở thủ tục phá sản đều không còn cần thiết và được thay thế bằng một sự quản lý đơn giản nhằm mục đích duy nhất là thực hiện tích sản để thanh toán nợ. Các vai trò trong thủ tục phá sản được phân phối lại; Tổ quản lý, thanh lý tài sản trở thành nhân vật trung tâm.
Trong quá trình mở thủ tục phá sản nếu doanh nghiệp, Hợp tác xã được tiếp tục hoạt động dưới sự quản lý của những người lãnh đạo tại chức hoặc của một Quản trị viên do Toà án bổ nhiệm, thì ngay sau khi có quyết định thanh lý các nhân vật này không còn cần thiết nữa và đương nhiên bị truất quyền. Tuy nhiên, những người này vẫn có thể trợ giúp Tổ quản lý, thanh lý tài sản trong công tác thanh lý.
Trong giai đoạn thanh lý, vai trò của tổ quản lý, thanh lý tài sản rất đa dạng: vừa là người đại diện cho chủ nợ, vừa là người quản lý doanh nghiệp, Hợp tác xã, vừa là người tiến hành tố tụng.
Là người đại diện cho chủ nợ, Tổ quản lý, thanh lý tài sản phải hoàn tất việc kiểm tra nợ và sắp xếp các thứ tự các khoản nợ. Tổ phải tiếp tục theo đuổi các vụ kiện đã được khởi động trước khi có quyết định thanh lý và có thể khởi kiện các vụ án mới. số tiền thu được sẽ nhập vào sản nghiệp của doanh nghiệp, Hợp tác xã bị phá sản để phân chia cho các chủ nợ.
Trên nguyên tắc, hoạt động của doanh nghiệp, Hợp tác xã bị ngưng lại. Tuy nhiên, tổ quản lý, thanh lý tài sản phải đảm trách việc quản lý tối thiểu: tiếp tục các vụ kiện do Quản trị viên đang tiến hành dở dang, hành xử các quyền và tố quyền liên quan đến sản nghiệp của doanh nghiệp, Hợp tác xã trong suốt thời gian tiến hành thủ tục thanh lý. Ngoài ra, với sự cho phép của Thẩm phán phụ ttách thủ tục phá sản, tổ quản lý, thanh lý tài sản có thể yêu cầu các hợp đồng đã được ký kết phải được tiếp tục thi hành nếu điều đó mang lại lợi ích cho sản nghiệp của doanh nghiệp, Hợp tác xã. Tổ quản lý, thanh lý phải tiến hành ngay công tác thanh lý mặc dù công việc xác định tiều sản của doanh nghiệp, Hợp tác xã có thể chưa hoàn tất. Nhiệm vụ của tổ không chỉ giới hạn vào việc thực hiện tích sản và thanh toán nợ, mà còn bao gồm cả việc hành xử các tố quyền như tô' quyền tiêu hủy các hành vi thực hiện trong thời gian khả nghi, yêu cầu áp dụng các biện pháp chế tài đối với những người lãnh đạo doanh nghiệp, Hợp tác xã. Theo định kỳ, tổ phải báo cáo với Thẩm phán phụ trách thủ tục phá sản về tiến trình thực hiện công việc.
5. Chấm dứt sự hiện hữu của doanh nghiệp, Hợp tác xã bằng thủ tục thanh lý
Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản đánh dấu một sự thay đổi triệt để chủ trương: vấn đề này không còn là tìm giải pháp cứu vãn doanh nghiệp, Hợp tác xã và việc làm cho công nhân. Trái lại, thủ tục mới nhằm hai mục tiêu: thực hiện tích sản và thanh toán tiêu sản. Có sự đảo ngược ưu tiên: doanh nghiệp, Hợp tác xã không có tương lai nên phải chấm dứt hiện hữu.
* Thực hiện tích sản:
Thanh lý sản nghiệp của doanh nghiệp, Hợp tác xã bị phá sản nhằm mục đích thanh toán tối đa nợ cho chủ nợ. Do đó, Tổ quản lý, thanh lý tài sản khi bán các tài sản thanh lý phải theo cách thức nào có lợi nhất cho các chủ nợ. cần phân biệt việc bán nhà xưởng và các tài sản khác.
- Bán nhà xưởng: Thanh lý nhà xưởng của doanh nghiệp, Hợp tác xã không có nghĩa là tháo dỡ nó ra từng mảnh để bán. Phải tránh việc phân tán các thành phần của tích sản khi các thành phần này có sự liên kết với nhau; nếu bán luôn một tổng thể thì nó sẽ tồn tại và có thể tiếp tục hoạt động trong tay người mua. Do đó, nhà xưởng phải được bán đồng bộ, hoặc ít ra cũng bán từng đơn vị độc lập. Bán như vậy sẽ được giá hơn là bán từng bộ phận được tháo ra.
- Bán các tài sản khác: Các tài sản có thể là bất động sản hay động sản. Theo đề nghị của tổ quản lý, thanh lý tài sản, Thẩm phán phụ trách thủ tục phá sản sẽ ân định cách thức và giá bán; có thể là bán đấu giá hay bán tương thuận.
- Giải quyết các tài sản cầm cố, thế chấp: Đôi vơi các tài sản cầm cố, thế chấp, tổ quản lý, thanh lý tài sản có thể lựa chọn giữa hai giải pháp vơi sự cho phép của Thẩm phán.
+ Hoặc là thanh toán số nợ đốì tượng của sự cầm cố, thế chấp, và lây lại tài sản nếu giá tộ tài sản này lớn hơn số nợ.
+ Hoặc là bán tài sản cầm cố, thế chấp để trả nợ ưu tiên cho chủ nợ có bảo đảm.
* Thanh toán nợ.
Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản sẽ làm thay đổi quyền lợi của chủ nợ. về phía tổ quản lý, thanh lý tài sản, họ phải tiến hành việc thanh lý và phân chia số tiền thu được từ việc bán tài sản cho các chủ nợ theo một thứ tự do luật định.
- Thay đổi quyền lợi của chủ nợ: quyết định của Toà án mở thủ tục thanh lý tài sản khiến cho các khoản nợ chưa đến hạn cũng được xử lý như nự đến hạn, nhưng không được tính lãi đối vơi thời gian chưa đến hạn.
- Thứ tự thanh toán nợ: (Điều 54 Luật Phá sản): Việc sắp xếp thứ tự các chủ nợ rất quan trọng khi tích sản thực hiện được không đủ để thanh toán nợ. Thường các chủ nợ chỉ được thanh toán một phần nợ, có nhiều chủ nợ không bảo đảm có khi chẳng lấy được đồng nào.
Thứ tự thanh toán nợ như sau: Đối với Doanh nghiệp Nhà nước bị thanh lý mặc dù đã được Nhà nước cung cấp thêm tiền hay tài sản khác giúp doanh nghiệp phục hồi, thì phải hoàn trả lại cho Nhà nước những số tiền hay tài sản này trước khi thực hiện việc phân chia cho các chủ nợ khác.
Đối với doanh nghiệp, Hợp tác xã khác thì việc thanh toán nợ phải theo thứ tự:
+ Phí phá sản.
+ Các khoản nợ lương, trợ câp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết.
+ Các khoản nợ không có bảo đảm theo nguyên tắc: nếu tích sản đủ để thanh toán tất các các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu tích sản không đủ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo một tỷ lệ được áp dụng đồng đều cho mọi người.
Nếu sau khi thanh toán nợ mà tích sản còn dư thì phần này sẽ thuộc về thành viên, cổ đông công ty hay xã viên hợp tác.
Cần nói thêm rằng đối với chủ nợ có bảo đảm thì họ đã được ưu tiên thanh toán trên số tiền thu hoạch được khi tổ quản lý, thanh lý bán các tài sản này. Nếu số tiền này không đủ thì số dư nợ sẽ chịu số phận của nợ không có bảo đảm.
Đối với các khoản nợ phát sinh sau khi Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản, nhất là trong thời gian áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, đúng lý họ phải được thanh toán ưu tiên đối với các chủ nợ không bảo đảm khác, nhưng vấn đề này Luật Phá sản hiện hành không quy định; đây có thể là một trở ngại cho việc phục hồi hoạt động của doanh nghiệp, Hợp tác xã đang gặp khó khăn.
6. Kết thúc thủ tục thanh lý tài sản (Điều 72 Luật Phá sản 2014)
Thẩm phán ra quyết định đình chỉ (kết thúc) thủ tục thanh lý tài sản trong hai trường hợp: khi việc thanh toán nợ đã được thực hiện xong và khi không còn tích sản để trả nợ,
- Kết thúc do nợ đã được trả xong.
Thẩm phán có thể ra quyết định kết thúc thủ tục thanh lý bất cứ khi nào khi không còn nỢ phải thanh toán, hoặc khi Tổ trưởng tổ quản lý, thanh lý, tài sản đã có trong tay số tiền đủ để thanh toán tất cả các khoản nợ.
Quyết định kết thúc thanh lý có hiệu lực giải trừ mọi hạn chế đốì với Chủ doanh nghiệp và những người lãnh đạo doanh nghiệp, Hợp tác xã; những người này được quyền trở lại vị trí của họ trước đây và được quyền tiếp tục công việc kinh doanh của họ.
- Kết thúc do không còn tài sản để trả nợ.
Đây là một kết thúc bi thảm cho các chủ nợ, họ không được trả nợ trong khi doanh nghiệp, Hợp tác xã thiếu nợ lại được giải trừ hoàn toàn nghĩa vụ.
Thực vậy, quyết định kết thúc thủ tục thanh lý tài sản khiến doanh nghiệp, Hợp tác xã thiếu nợ được hoàn toàn giải trừ nghĩa vụ mặc dù chưa trả nợ. Các chủ nợ cũng không thể tiếp tục kiện doanh nghiệp, Hợp tác xã để đòi nợ.
Kết cục này có vẻ bất công đối với các chủ nợ. Tuy nhiên, để biện minh cho giải pháp này người ta có thể nêu
lên lý do: doanh nghiệp, Hợp tác xã là một pháp nhân riêng biệt, nay pháp nhân này đã bị giải thể, thì chủ nợ không thể tiếp tục đòi nợ một người không còn hiện hữu nữa. Còn đối với Chủ DNTN, Hộ kinh doanh cá thể, thành viên Công ty hợp danh, toàn bộ tài sản cá nhân của họ đã được dùng để thanh toán nợ; nay họ trở thành vô tư lực, các chủ nợ chẳng có lợi ích gì để kiện cáo họ. Ngoài ra, nếu các chủ nợ có quyền cứ tiếp tục đeo bám họ suốt đời thì họ sẽ không dám làm bất cứ một hoạt động kinh doanh nào nữa để nuôi sông họ và gia đình họ.
So sánh với luật nước ngoài chúng ta thấy có một giải pháp cho phép hàn gắn những mất mát của chủ nợ: những người lãnh đạo và quản lý các công ty đã được hưởng lợi khi công ty làm ăn phát đạt, nay công ty thất bại thì họ phải gánh chịu hậu quả. Do đó, khi công ty bị phá sản những người này phải bị chế tài về dân sự. Họ có nghĩa vụ phải bù đắp toàn bộ hay một phần sự thiếu hụt tài sản để thanh toán nợ cho chủ nợ.
Theo Luật ngày 25.01.1985 của Pháp thì tất cả những người nắm quyền điều hành công ty về mặt kinh tế đều phải có nghĩa vụ này: Giám đốc Công ty TNHH, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Quản trị viên và Tổng giám đốc Công ty cổ phần. Các thành viên Ban kiểm soát, các Giám đốc kỹ thuật không bao gồm ttong số những người này. Tuy nhiên, theo nguyên tắc chung về trách nhiệm dân sự, những người kể trên chỉ chịu trách nhiệm nếu họ phạm lỗi trong việc quản lý
Luật Phá sản Việt Nam hiện hành không quy định một sự chế tài nào tương tự như vậy mà chỉ đưa ra một sự cấm đoán đảm nhiệm chức vụ có thời hạn (Điều 130 Luật Phá sản 2014).