1. Những hạn chế của định chế thương mại theo GATT
Mặc dù thương mại thế giới mở rộng nhanh chóng trong những năm sau Thế giới thứ hai, tầm vóc của định chế thương mại theo GATT vẫn rất khiêm tốn. Hiến chương Havana hình dung ra một tổ chức mà trách nhiệm được ủy thác là chú tâm vào một tập hợp các vấn đề đa dạng, từ mức lương đến tập quán kinh doanh; song chương trình nghị sự của GATT lại rất hạn chế. cả những điều khoản của Hiệp định GATT, vốn rất ít thay đổi, lẫn những vòng đàm phán liên tục sau đó đều đặt trọng tâm vào công cuộc tự do hóa các rào cản thương mại “ở biên giới”. Trong những năm đầu tiên, các vòng đàm phán thương mại tập trung vào việc chuyển đổi các rào cản thương mại định lượng sang thuế quan, cũng như việc ràng buộc và giảm thiểu các mức thuế quan này thông qua đàm phán. Bắt đầu từ Vòng Tokyo, những rào cản phi thuế quan khác được đưa thêm vào chương trình nghị sự, nhưng các cuộc thương thảo phần lớn vẫn giới hạn vào việc hạ thấp các rào cản thương mại dễ thấy trong một tập hợp sản phẩm rất giới hạn, chủ yếu là hàng công nghiệp.
Được phân định như vậy, dự án GATT là một thành công vượt bậc. Các rào cản thương mại vận hành ở biên giới đã được giảm thiểu cho đến khi chúng chỉ còn là những trở ngại thứ yếu trong thương mại quốc tế giữa các nước công nghiệp. Mặc dù sự gia tăng thương mại thế giới thời hậu chiến là kết quả của nhiều nhân tố, GATT vẫn được công nhận là có một vai trò rất ý nghĩa. Thành công của GATT là sản phẩm của việc tiếp thu và vận dụng những quy tắc và chuẩn mực tạo điều kiện dễ dàng cho các cuộc đàm phán thương mại, tức là “lối mặc cả nói thách” giữa các nước thành viên. Các quy tắc, nhất là ở các nước phát triển, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động nhiều nhóm người có lợi ích trong xuất khẩu ra nước ngoài. Các nhóm này đã phản kháng một cách hiệu quả hành vi trục lợi của các nhóm nhạy cảm với nhập khẩu và thay đổi thế cân bằng chính trị giữa các bên tham gia GATT, hỗ trợ cho một chương trình tự do hóa thương mại. Những quy tắc và chuẩn mực của GATT phát huy rất tốt trong thương mại hàng công nghiệp bởi vì các quốc gia có thể cân bằng được tác động của việc tăng cơ hội tiếp cận thị trường cho các nhà xuất khẩu với ảnh hưởng của những nhượng bộ ở nhũng ngành công nghiệp phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu. Trong các lĩnh vực như nông nghiệp, dệt may, sắt thép, phương pháp đối kháng này ít thành công; chủ yếu là do kết quả sự can thiệp rộng rãi của chính phủ vào những lĩnh vực này.
2. WTO - những thay đổi tích cực
Trái lại, WTO nhận được sự ủy thác rộng rãi hơn nhiều. WTO bao quát gần như mọi chủng loại hàng hóa, nhiều dịch vụ trao đổi quốc tế và các khía cạnh liên quan tới thương mại của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; ngoài ra nó còn áp đặt một số giới hạn lên chính sách đầu tư và mua sắm của chính phủ. Không chỉ tác động chủ yếu tới các biện pháp nơi biên giới, giờ đây các quy tắc của WTO vươn sâu vào nội địa, vào địa hạt ban hành quyết định có tính chất đối nội của quốc gia. Và không chỉ quan tâm tới những chính sách có tác động rõ rệt lên hoạt động thương mại, giờ đây chương trình nghị sự của WTO còn bao gồm cả những chính sách mà theo truyền thống được coi là những vấn đề điều hành nội bộ.
3. Giới thiệu về vòng đàm phán Uruguay
Vòng đàm phán Uruguay( 1986-1994): bao gồm 125 nước tham gia. Đây là vòng đàm phán cuối cùng và cũng là vòng đàm phán tham vọng nhất trong số tất cả các vòng đàm phán của GATT. Vòng đàm phán này đã dẫn đến việc thành lập WTO và thông qua một loạt các hiệp định mới.
Những nét chính của vòng này là: thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT; giảm thuế và các biện pháp trợ cấp xuất khẩu; giảm hạn ngạch và các hạn chế nhập khẩu khác trong vòng 20 năm; ký kết Hiệp định về Bảo hộ Quyền sở hữu Trí tuệ liên quan đến Thương mại (TRIPS); mở rộng phạm vi áp dụng của luật thương mại quốc tế sang lĩnh vực dịch vụ thông qua Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS); dỡ bỏ hạn chế đối với đầu tư nước ngoài.
4. Nhiệm vụ thứ nhất của vòng đàm phán Uruguay
Thành quả chủ yếu của Vòng Uruguay là sự chuyển dịch trọng tâm chú ý của định chế thương mại từ một bộ quy tắc ứng xử trong thương mại hàng công nghiệp sang một thỏa thuận toàn diện về tất cả những vấn đề cơ bản liên quan tới thương mại. Vòng đàm phán thương mại lần thứ tám của GATT được các chính phủ giao cho ba nhiệm vụ rõ ràng. Nhiệm vụ thứ nhất là đưa vào hệ thống của GATT một cách đầy đủ hơn một số lĩnh vực quan trọng của hoạt động thương mại mà trước đây bị bỏ qua hoặc quá khó, không thể tích hợp được. Trong số những lĩnh vực này có sản phẩm nông nghiệp và thương mại hàng dệt và may. Những cuộc thương thảo này thể hiện sự hoàn tất chương trình nghị sự tự do hóa thương mại “truyền thống” thông qua việc bao hàm những lĩnh vực có vẻ như đã tránh khỏi các quy tắc của định chế thương mại. Thương mại các mặt hàng này tỏ ra khó tự do hóa được vì liên quan tới những lợi ích nội bộ; nói chung chúng không đặt ra những vấn đề cơ bản về hành chính hoặc nêu lên những vấn đề pháp lý hoặc chính trị mới. Những vấn đề đang bộc lộ trong các lĩnh vực “lạc hậu” này vốn đã quen thuộc với người trong cuộc. Trong trường hợp hàng dệt chẳng hạn, các vấn đề thương mại liên quan trước hết tới việc sử dụng quá đáng các công cụ ở biên giới (chủ yếu là các hạn chế định lượng) để bảo vệ công nghiệp dệt nội địa trước hàng hóa nhập khẩu. Trong nông nghiệp, các vấn đề xoay quanh tác động của chính sách nông nghiệp nội địa. Nhưng ảnh hưởng thương mại của các khoản trợ cấp nội địa từ lâu đã được thừa nhận như là một lĩnh vực điều hành hợp pháp phù hợp với các điều khoản của GATT. vấn đề áp dụng những quy tắc này vào các chương trình nông nghiệp nội địa thì mang tính chất chính trị hơn là thuần khái niệm.
5. Nhiệm vụ thứ hai của vòng đàm phán Uruguay
Nhiệm vụ thứ hai của Vòng Uruguay là về mặt tổ chức: củng cố những quy tắc của Vòng Tokyo thành một tài liệu duy nhất, tăng số quốc gia đồng ý tuân thủ những quy tắc đó và thiết lập một bộ quy tắc chung cũng những dàn xếp mang tính thể chế chung để giải quyết những vụ vi phạm. Khi vòng đàm phán kết thúc, chỉ còn bốn bộ quy tắc chưa được tích hợp vào WTO, chúng phải được đưa ra áp dụng đa phương.3 Những thỏa thuận tích hợp mới sửa chữa lại các quy tắc về trợ cấp, về chống bán phá giá cũng như định nghĩa lại Bộ Tiêu chuẩn (Standard Code) nhằm phân biệt rõ ràng giữa những quy định dựa trên rủi ro và những quy định liên quan tới tiêu chuẩn kỹ thuật. Vì tất cả các thành viên của WTO đều cam kết áp dụng những quy tắc này như là một “cam kết duy nhất”, điều này đã làm tăng nguy cơ vi phạm quy tắc. Do vậy cần phải thực thi tốt hơn một kỷ luật pháp lý thông qua việc cải tổ quy trình giải quyết tranh chấp.
Mặc dù đòi hỏi một kỹ năng đàm phán đáng kể, những cuộc sửa đổi, cải tiến và trình bày bộ quy tắc này thành một tài liệu thống nhất vẫn còn nằm trong quỹ đạo truyền thống những quy tắc thương mại quốc tế. cần có những quy tắc về trợ cấp nội địa bởi vì tác động tiềm tàng của những khoản trợ cấp đó đối với các mô hình thương mại. Việc lạm dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, các quy định về sức khỏe như là các công cụ bảo hộ cũng đã được thừa nhận vào một lúc nào đó. Logic của những bộ quy tắc về chính sách thuế chống phá giá và thuế bù thiệt hại được đặt trên sự hiểu biết chung về việc làm thế nào mà hành vi không bị giới hạn của các quốc gia nhập khẩu có thể dẫn tới sự ngưng trệ của thị trường thế giới. Rõ ràng cả hai đều có liên quan tới các mục tiêu chính sách thương mại vì chúng hạn chế những quy định được ban hành nhằm hỗ trợ những lĩnh vực “bị tổn thương" do sự mở rộng thương mại.
6. Nhiệm vụ thứ ba của vòng Uruguay
Nhiệm vụ thứ ba của Vông Uruguay là tích hợp vào một định chế thương mại đa phương những loại hình thương mại mới, đặc biệt là thương mại dịch vụ và thương mại sản phẩm có bao hàm sở hữu trí tuệ mà trước đây chưa từng được xem xét trong nội dung của định chế GATT. Các quy định ảnh hưởng tới những khía cạnh này của nền kinh tế không nhất thiết phải là một phần của chính sách thương mại truyền thống và liên quan tới những công cụ luật lệ thường vẫn được coi là thuộc về lãnh địa của việc hoạch định chính sách trong nước.4 Trong một số trường hợp, khu vực biên giới vẫn là địa điểm áp dụng những công cụ điều chỉnh các vấn đề này, nhưng trong lĩnh vực thương mại dịch vụ gần như tất cả các biện pháp cản trở thương mại đều hoạt động đằng sau biên giới. Sự mở rộng các quy tắc thương mại tới những lĩnh vực chính sách này là một khởi điểm cấp tiến hơn nữa cho hệ thống thương mại hơn là củng cố những quy tắc bảo đảm thương mại công bằng và hợp nhất những khu vực chậm chân. Sự điều hành chính sách trong các lĩnh vực này nêu lên vấn đề về tính khả dụng của những nguyên tắc của GATT và đặt nghi vấn với quan niệm tiêu chuẩn về cái gì là “thương mại tự do”, cái gì là “bảo hộ”. Trái lại với việc loại trừ từng phần quy định về trợ cấp nông nghiệp nội địa, sự mở rộng quy tắc thương mại vào các lĩnh vực luật lệ nội địa không phải là phần trung tâm của công cuộc tích hợp các ngành nghề chậm chân, cũng không phải là điều hành các quy tắc bảo đảm thương mại công bằng.
Những nhiệm vụ này nối kết với nhau theo một cách thức rất thiết yếu để vòng đàm phán có thể chấp nhận được về mặt chính trị. Việc thiếu vắng những quy tắc mang tính cưỡng bức trong lĩnh vực nông nghiệp và sự lệ thuộc vào chế độ hạn ngạch để hạn chế thương mại trong trường hợp hàng dệt may là một bất lợi nghiêm trọng cho các nước đang phát triển đang muốn mở rộng hoạt động thương mại vào thị trường các nước đã phát triển. Tuy nhiên, không dễ gì tìm được một sự thỏa hiệp giữa Hoa Kỳ và châu Âu về vấn đề nông nghiệp. Các nhà cung cấp dịch vụ và hàng hóa có yêu cầu bảo vệ sở hữu trí tuệ tù’ các nước phát triển mong muốn được tiếp cận tự do hơn thị trường của các nước đang phát triển. Mặc dù đã có nhiều cuộc mặc cả quan trọng trong thế giới phát triển, song cuộc mặc cả chính trị tổng quát nhất có tác dụng kích hoạt và ở mức độ nào đó duy trì Vòng Uruguay trong suốt bảy năm rưỡi thương thảo vừa qua chính là cuộc mặc cả về việc các nước nghèo tiếp cận thị trường các nước giàu để bán hàng nông sản và hàng dệt may, đổi lấy việc cung cấp quyền tiếp cận các thị trường đang nổi lên cho dịch vụ của các nước giàu cùng với sự tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ căn bản ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên nhìn tổng thể, nhiều nhượng bộ mà các nước đang phát triển đề xuất đã có hiệu lực rất sớm trong khi những lợi ích từ việc mở cửa thị trường các nước giàu, như thị trường dệt may chẳng hạn, chỉ có hiệu lực sau một thời gian dài thực hiện từng bước một. Sự vỡ mộng với cuộc mặc cả cuối cúng và con đường mà cuộc mặc cả này đi qua trong những năm tháng tiếp nối vòng đàm phán đã làm gia tăng sự căng thẳng mà chúng tôi đã đề cập và thiết lập bối cảnh cho các cuộc đàm phán thương mại hiện nay.
LUẬT MINH KHÊU (Sưu tầm & Biên tập)