1. Định nghĩa trẻ em

Theo Điều 1, trẻ em là những người dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia quy định khác. Như vậy, đây là một quy định mở, trong đó mức trần tuổi 18 được coi là mức tiêu chuẩn nhưng không phải cố định, bắt buộc với mọi quốc gia. Nói cách khác, điều này cho phép các quốc gia có thể quy định độ tuổi được coi là trẻ em thấp hơn 18 tuổi, và vì vậy, độ tuổi được coi là trẻ em có thể khác nhau giữa các nước thành viên. Về nguyên tắc, nếu mức trần độ tuổi được coi là trẻ em càng cao và mang tính cố định, thì số lượng trẻ em được bảo vệ bởi CRC sẽ càng lớn. Hay nói cách khác, cách quy định mang tính “mềm dẻo” như Điều 1 CRC có thể làm số lượng trẻ em được bảo vệ theo công ước bị giảm đi ở một số quốc gia. Tuy nhiên, chính cách quy định mềm dẻo như vậy lại có tác dụng tích cực là tối đa hóa số lượng quốc gia chấp nhận công ước. Từ thực tế đó, tính đến sự khác nhau về nhận thức ở các quốc gia về độ tuổi được coi là trẻ em và đặt mục tiêu số lượng thành viên CRC lên hàng đầu nên Liên hợp quốc đã đưa ra quy định về độ tuổi trẻ em như Điều 1 của CRC. Cũng theo định nghĩa kể trên, CRC không quy định từ khi nào được coi là trẻ em, nhưng theo Lời nói đầu thì: “...trẻ em cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý từ trước cũng như sau khi ra đời”. Quy định này hàm nghĩa rằng, việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em cần phải được thực hiện ngay từ những giai đoạn “trứng nước” chứ không đợi đến lúc trẻ chào đời.

2. Không phân biệt đối xử

Vấn đề này được nêu ở Điều 2 và là một trong bốn nguyên tắc của Công ước (đã đề cập ở trên). Điểm đặc biệt so với quy định về vấn đề này trong các điều ước quốc tế khác là ở đây, sự phân biệt đối xử trẻ em được gắn với sự phân biệt đối xử với cha mẹ, người giám hộ hay các thành viên trong gia đình của trẻ. Cụ thể, Điều 2 yêu cầu các quốc gia xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc, sắc tộc hay xã hội, tài sản, khuyết tật, thành phần xuất thân hay địa vị khác của trẻ em, cha mẹ, người giám hộ hợp pháp, hoặc những thành viên khác trong gia đình của trẻ em. Liên quan đến quy định trong Điều 2, Ủy ban về quyền trẻ em – cơ quan giám sát việc thực hiện CRC – trong Bình luận chung số 4 thông qua tại phiên họp lần thứ 33 năm 20031 cho rằng, ngoài những yếu tố như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, dân tộc, quốc tịch, chính kiến và quan điểm khác, nguồn gốc xã hội, tài sản, tình trạng khuyết tật và dòng dõi thì xu hướng giới tính (sexual orientation) và tình trạng sức khỏe (health status) (bao gồm việc bị nhiễm HIV và bị thiểu năng tâm thần) cũng có thể là nền tảng của sự phân biệt đối xử với trẻ em. Theo Bình luận chung số 6 thông qua năm 2005, những yếu tố khác có thể tạo ra sự phân biệt đối xử với trẻ em bao gồm tình trạng vô thừa nhận, mồ côi cha mẹ, vị thế là người nhập cư, tị nạn hay tìm kiếm quy chế tị nạn của trẻ (đoạn 18). Bình luận chung số 5 thông qua tại phiên họp lần thứ 34 năm 2003 xác định rằng, nghĩa vụ nêu trong Điều này đòi hỏi các quốc gia thành viên phải chủ động nghiên cứu và thực hiện các biện pháp để giảm thiểu hoặc xóa bỏ những bối cảnh tạo ra sự phân biệt đối xử với các nhóm trẻ em, bao gồm việc th ực thi các biện pháp lập pháp, hành pháp, giáo d ục và phân b ổ các nguồn l ực. Mặc dù vậy, Ủy ban c ũng l ưu ý rằng, việc áp d ụng nguyên tắc không phân biệt đối x ử không có nghĩa là th ực hiện việc đối x ử gi ống nhau v ới m ọi trẻ em.

3. Lợi ích tốt nhất dành cho trẻ em

Đây là một trong bốn nguyên tắc của Công ước (đã đề cập ở trên), được nêu ở Điều 3 và được nhắc lại trong nhiều điều khoản khác của CRC, bao gồm các Điều 9, 18, 20 và 21. Theo nguyên tắc này, lợi ích của trẻ em phải được ưu tiên xem xét trong mọi hoạt động có liên quan đến trẻ em của mọi chủ thể, chứ không chỉ giới hạn trong các tiến trình lập pháp, hành pháp hay tư pháp của các cơ quan Nhà nước. Về khía cạnh này, Điều 3 xác định trách nhiệm của nhà nước trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em trong trường hợp cha mẹ hoặc những chủ thể có liên quan khác không thể thực hiện hoặc hoàn thành trách nhiệm ấy. Liên quan đến quy định trong Điều 3, trong Bình luận chung số 5 Ủy ban về quyền trẻ em cho rằng, để thực hiện điều này đòi hỏi các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của các quốc gia thành viên đều phải có những biện pháp chủ động để bảo đảm trong mọi hoạt động của cơ quan mình lợi ích của trẻ em đều được đặt lên hàng đầu. Thêm vào đó, Ủy ban cũng khuyến nghị các quốc gia thành viên đánh giá một cách có hệ thống ảnh hưởng của các quyết định và hoạt động của các cơ quan này đối với các quyền và lợi ích của trẻ em, kể cả những quyết định và hoạt động có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến trẻ em. Trong Bình luận chung số 7, Ủy ban nêu rằng, nguyên tắc này đòi hỏi trong mọi quyết định liên quan đến trẻ em còn cần phải tính đến quan điểm của các bậc cha mẹ, thầy cô giáo và những người khác có trách nhiệm với trẻ em ( đoạn 13).

4. Sự sống còn và phát triển của trẻ em

Điều 6 thừa nhận quyền sống như là một quyền cố hữu của trẻ em và quy định trách nhiệm của các quốc gia trong việc bảo đảm sự sống còn và phát triển của trẻ ở mức cao nhất. Liên quan đến quy định trong Điều 6, có hai khía cạnh cần chú ý đó là: Thứ nhất, “sống còn” (survival) là một trong những thuật ngữ đặc thù được sử dụng trong Công ước về quyền trẻ em. Do trẻ em là những chủ thể còn non nớt cả về thể chất và tinh thần nên khác với người lớn, việc bảo vệ sự sống còn của trẻ không chỉ đòi hỏi các biện pháp thông thường cần thiết để bảo vệ tính mạng, mà còn bao gồm các biện pháp phòng ngừa về sức khỏe như tiêm chủng, dinh dưỡng, chăm sóc... Thứ hai, sự phát triển của trẻ em cần được hiểu một cách toàn diện, theo đó không chỉ bao gồm phương diện thể chất, mà còn về các phương diện trí tuệ, tình cảm, đạo đức, xã hội. Về vấn đề trên, trong các Bình luận chung số 4 và s ố 7, Ủy ban quyền trẻ em nêu rằng sự sống còn và phát triển của trẻ em liên quan đến một loạt các quyền khác như quyền được có lương thực, thực phẩm thích đáng; quyền đạt được sức khỏe ở mức cao nhất có thể; quyền được bảo vệ trước những sự xâm hại về tính mạng, thân thể, danh dự, nhân phẩm... mà được nêu không chỉ trong CRC mà còn trong hai nghị định thư tùy chọn bổ sung công ước mà đề cập các vấn đề về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em, sử dụng trẻ em để sản xuất văn hóa phẩm khiêu dâm và bảo vệ trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang.

5. Tôn trọng ý kiến, quan điểm của trẻ em

Nội dung của Điều 12 đồng thời cũng là một trong bốn nguyên tắc cơ bản của CRC. Điều này thừa nhận trẻ em có quyền bày tỏ ý kiến, quan điểm riêng của mình về các vấn đề liên quan đến trẻ, trong mọi hoàn cảnh, kể cả trong hoạt động tố tụng, đồng thời yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có khả năng và cơ hội hình thành và nói lên những ý kiến, quan điểm của mình cũng như phải tôn trọng những quan điểm, ý kiến của trẻ một cách thích đáng với độ tuổi và mức độ trưởng thành của trẻ. Cần hiểu rằng, việc bày tỏ ý kiến, quan điểm của trẻ có thể được thực hiện ở mọi môi trường (trong gia đình, cộng đồng và ngoài xã hội...) một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người đại diện, dưới nhiều hình thức thích hợp, chẳng hạn như: phát biểu tại các cuộc họp, viết thư, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng... Cũng cần hiểu rằng, quy định kể trên không có nghĩa là cha mẹ, Nhà nước và các chủ thể khác phải nghe theo các ý kiến, quan điểm của trẻ trong mọi trường hợp, mà chỉ đặt ra nghĩa vụ cho các chủ thể phải lắng nghe, tôn trọng, nghiêm túc xem xét và thực hiện các ý kiến, quan điểm đó nếu thấy chúng hợp lý và có thể áp dụng. Liên quan đến nội dung Điều 12, Ủy ban Quyền trẻ em, trong Bình luận chung số 7 thông qua tại phiên họp lần thứ 34 năm 2005 nhấn mạnh rằng, kể cả những trẻ ở độ tuổi còn nhỏ cũng có quyền được bày tỏ và tôn trọng ý kiến, quan điểm một cách thích đáng. Ủy ban lưu ý về những môi trường mà trong đó quyền này của trẻ cần được chú trọng bảo đảm, bao gồm gia đình, các cơ sở giáo dục, chăm sóc y tế dành cho trẻ em, hoạt động tố tụng, hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật, nghiên cứu, tư vấn... có liên quan đến trẻ. Ủy ban cũng khuyến nghị các quốc gia thành viên thực hiện các biện pháp thích hợp để thúc đẩy các bậc cha mẹ và những chủ thể có trách nhiệm khác tạo cơ hội cho trẻ em được bày tỏ ý kiến, quan điểm và tôn trọng các ý kiến, quan điểm của trẻ (đoạn14). Sự đồng thuận về việc định nghĩa quyền trẻ em đã trở nên rõ ràng hơn trong năm mươi năm qua. Một bài viết xuất bản năm 1973 của Hillary Clinton (khi ấy bà là một luật sư) nói rằng quyền trẻ em là một "cụm từ cần được định nghĩa". Theo một số nhà nghiên cứu, khái niệm về quyền trẻ em vẫn không được định nghĩa rõ ràng, với ít nhất một đề xuất rằng không có định nghĩa hay lý thuyết về quyền của trẻ em được chấp nhận là duy nhất. Luật về quyền trẻ em được định nghĩa là điểm nơi pháp luật giao cắt với đời sống của một đứa trẻ. Nó gồm tình trạng phạm tội vị thành niên, quy trình pháp lý cho trẻ em liên quan tới hệ thống pháp lý hình sự, sự đại diện thích hợp và các dịch vụ phục hồi hiệu quả; chăm sóc hay bảo vệ trẻ em trong các trung tâm chăm sóc của nhà nước; đảm bảo giáo dục cho mọi đứa trẻ không cần biết tới nguồn gốc, nòi giống, giới tính, sự tàn tật, hay khả năng, và chăm sóc sức khoẻ và biện hộ pháp lý.