1. Chế độ thai sản là gì ? 

Chế độ thai sản có lẽ không còn quá xa lạ đối với những người phụ nữ tham gia vào thị trường lao động Việt Nam ngày nay. Đây là một trong những chế độ quan trọng có trong bảo hiểm xã hội bắt buộc nhằm giúp cho những người phụ nữ trong thời kỳ thai sản cũng như người lao động nam có vợ sinh con có một nguồn thu nhập ổn định và đặc biệt là đảm bảo tốt cho họ về mặt sức khỏe cũng như là tinh thần. 

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 hiện hành đã quy định cụ thể về chế độ thai sản cho người lao động nữ. Trong đó cần chú ý đến các vấn đề như đối tượng được hưởng, điều kiện hưởng, mức hưởng cũng như thời gian được hưởng và các trường hợp đặc biệt khác cần lưu ý. Tuy nhiên, trong bài viết này, Luật Minh Khuê sẽ chỉ tập trung chú trọng đến những trường hợp mà người lao động không được hưởng chế độ thai sản, giúp các độc giả hiểu rõ nguyên nhân không được hưởng chế độ thai sản là gì ? 

 

2. Đối tượng được hưởng chế độ thai sản 

Trước hết, một người lao động nữ muốn được hưởng chế độ thai sản cần phải biết được họ có thuộc đối tượng được hưởng chế độ này hay không. Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động nữ là đối tượng được hưởng chế độ thai sản trước hết phải là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, trong đó đối tượng được hưởng chế độ thai sản bao gồm các nhóm sau:

+ Thứ nhất là những người lao động làm việc theo hợp đồng (hợp đồng không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn,...) hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng (áp dụng cho cả người dưới 15 tuổi tham gia vào thị trường lao động theo quy định của pháp luật lao động) hoặc hợp đồng có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 3 tháng.

+ Thứ hai là nhóm người lao động đặc biệt như: cán bộ, công chức, viên chức; công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu; sĩ quan quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương.

Như vậy, những người lao động là công dân Việt Nam đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thuộc hai nhóm nêu trên sẽ là đối tượng được hưởng trợ cấp thai sản khi tham gia vào thị trường lao động.

 

3. Những trường hợp nào không được hưởng chế độ thai sản

Khi thuộc một trong các nhóm đối tượng nêu trên, người lao động nữ sẽ đương nhiên thuộc đối tượng được hưởng chế độ thai sản. Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp người lao động nữ thuộc một trong các nhóm đối tượng trên nhưng vẫn không được hưởng hoặc được hưởng không tối đa chế độ thai sản. Vậy muốn biết những trường hợp nào không được hưởng chế độ thai sản, chúng ta cần phải tìm hiểu xem pháp luật bảo hiểm xã hội quy định như thế nào về những điều kiện được hưởng chế độ thai sản cho người lao động nữ hiện nay (Xem điều 31, Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 về điều kiện hưởng chế độ thai sản)

Theo quy định ở trên, người lao động nữ sẽ được hưởng chế độ thai sản trong thời kỳ mang thai cho đến khi sinh con. Ngoài ra, người lao động nói chung nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi hoặc thực hiện biện pháp triệt sản đều được áp dụng chế độ thai sản. Bên cạnh đó, không nhất thiết người lao động nữ mới được hưởng chế độ thai sản mà những người lao động nam có vợ sinh con cũng thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp một lần khi sinh con. 

Để đảm bảo những người lao động thuộc trường hợp được hưởng chế độ thai sản có thể được hưởng chế độ thai sản đúng đắn thì cần phải xác định được rõ thời gian luật quy định trước 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính như nào. Theo đó cần chú ý hai mốc thời gian trong tháng đó là trước ngày 15 của tháng và từ ngày 15 trở đi của tháng như sau:

+ Trước ngày 15 của tháng, người lao động sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con nuôi. 

Lấy một ví dụ cụ thể: Giả sử chị A sinh con ngày 13/9/2018, thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 9/2017 đến tháng 8/2018. Trong khoảng thời gian này, người lao động nếu đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên thì sẽ được hưởng chế độ thai sản

+ Thứ hai là mốc thời gian sau từ ngày 15 trở đi của tháng và tháng đó có đóng bảo hiểm xã hội. lúc này tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi sẽ được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. Nếu như người lao động không đóng bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định của việc sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 hàng tháng 

Ví dụ: Chị B sinh con ngày 20/5/2022 và tháng 5/2022 có đóng bảo hiểm xã hội, lúc này thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 6/2021 đến tháng 5/2022. Nếu trong thời gian này chị B có đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên sẽ được hưởng chế độ thai sản hoặc đóng từ đủ 03 tháng trở lên nhưng trong trường hợp khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sỏ khám chữa bệnh có thẩm quyền thì vẫn sẽ được hưởng chế độ thai sản theo quy định 

Về điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi sinh con đối với trường hợp:

+ Chỉ có người cha tham gia đóng bảo hiểm xã hội thì cha phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con

+ Người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm nhận con

Đối với những trường hợp này thì việc xác định thời gian 12 tháng trước khi sinh con để hưởng trợ cấp một lần khi sinh con cũng được thực hiện theo hai mốc thời gian như đã nêu ở trên.

Bên cạnh đó nếu có trường hợp người mẹ tham gia bảo hiểm xã hội nhưng vì một lý do nào đó mà không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con nhưng người cha lại đủ điều kiện quy định như đã nêu ở trên thì người cha được hưởng trợ cấp một lần khi sinh con. 

Lưu ý về trường hợp nếu người lao động chấm dứt hợp đồng, nghỉ việc trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi thì vẫn sẽ được hưởng chế độ thai sản nếu như đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên. Ngoài ra nếu trong thời gian đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con mà người lao động nữ phải nghỉ việc để khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai chết lưu hay phá thai bệnh lý hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai đều vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật. 

Như vậy, trên đây là các trường hợp mà người lao động được hưởng trợ cấp thai sản. Nếu không đáp ứng được một trong các điều kiện nêu trên, người lao động sẽ đương nhiên không được hưởng chế độ thai sản. Do vậy người lao động để có thể đảm bảo được tốt nhất quyền lợi của mình, cần phải chủ động đóng bảo hiểm xã hội càng sớm càng tốt và cần chú ý về mặt thời gian.

Trên đây là tư vấn về những trường hợp không được hưởng trợ cấp thai sản. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật bảo hiểm xã hội trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng cảm ơn!