1. Khái niệm

Theo quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự thì “Chỉ người nào phạm một tội đã được luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, cơ sở của trách nhiệm hình sự là hành vi phạm tội mà tội phạm như quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự phải hội tụ đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Các yếu tố đó, theo khoa học luật hình sự Việt Nam được thừa nhận trong các sách báo, giáo trình giảng dạy tại các trường đại học và sau đại học bao gồm: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan. Một hành vi bị coi là tội phạm khi nó hội tụ đủ bốn yếu tố cấu thành tội phạm, ngược lại là không phải là tội phạm và người có hành vi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, khi nghiên cứu các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự không thể không nghiên cứu tội phạm và các yếu tố cấu thành tội phạm. Ngược lại khi nghiên cứu tội phạm không thể không nhiên cứu các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.

Loại trừ trách nhiệm hình sự là trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho xã hội, nhưng theo pháp luật họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Loại trừ trách nhiệm hình sự cũng có thể được hiểu là hành vi không cấu thành tội phạm, nhưng loại trừ trách nhiệm hình sự có nội dung cụ thể hơn, còn hành vi không cấu thành tội phạm chủ yếu mang tính lý luận, và nó được nghiên cứu dưới góc độ khái niệm tội phạm, tính chất của tội phạm cũng như các đặc điểm của tội phạm.

Loại trừ trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với miễn trách nhiệm hình sự. Miễn trách nhiệm hình sự là trường hợp một người có hành vi, và hành vi đó có đủ yếu tố cấu thành tội phạm (có tội phạm xảy ra) nhưng họ được Viện kiểm sát hoặc Tòa án miễn trách nhiệm hình sự. Một người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, hoặc trước khi hành ví phạm tội được phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm (Điều 25 Bộ luật hình sự). Miễn trách nhiệm hình sự là trường hợp lẽ ra người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng vì có lý do chính đáng nên họ được miễn. Còn loại trừ trách nhiệm hình sự là người có hành vi không bị coi là phạm tội, và theo quy định của pháp luật thì họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, suy cho cùng thì miễn trách nhiệm hình sự cũng là không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nên trong phạm vi cuốn sách này chúng ta cũng sẽ nghiên cứu cả những trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự.

Loại trừ trách nhiệm hình sự cũng không đồng nghĩa với trường hợp không có sự việc phạm tội. Không có sự việc phạm tội là không có hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho xã hội, nhưng do những yếu tố khách quan hoặc chủ quan nên các cơ quan tiến hành tố tụng đã truy cứu trách nhiệm hình sự oan một người hoặc một số người. Tùy theo giai đoạn tố tụng mà cơ quan điều tra, truy tố hoặc xét xử phát hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự là không đúng nên đã ra quyết định đình chỉ vụ án, nếu bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện không có sự việc phạm tội, thì bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, và Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó và đình chỉ vụ án. Không có sự việc phạm tội là không có tội phạm xảy ra, nhưng mọi người kể cả các cơ quan tiến hành tố tụng tưởng lầm là có tội phạm xảy ra, nên đã khởi tố, truy tố hoặc kết án người không thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: B bị chết vì ăn phải thức ăn có thuốc độc, nhưng thân nhân của B lại nghi cho A đã đầu độc B vì trước đó A và B có mâu thuẫn với nhau. Cơ quan điều tra khởi tô' vụ án, khởi tố bị can đối với A, khám nhà A, cơ quan điều tra lại thu được chất độc cùng với chất độc đã gây cho B chết theo kết luận của cơ quan pháp y, Trong quá trình bị tạm giam, có lúc A nhận tội, nhưng sau đó lại chối tội. Sau khi A bị kết án, gia đình B đã dọn dẹp đồ dùng cá nhân của B thì phát hiện được lá thư tuyệt mệnh của B, với nội dung trong thời gian công tác ở nước ngoài B đã bị nhiễm HIV, B không muốn lây bệnh cho vợ và biết mình sắp chết nên đã tự tử.

Loại trừ trách nhiệm hình sự là một chế định mà luật hình tất cả các nước trên thế giới đều có quy định. Tuy nhiên, mỗi nước quy định khác nhau về phạm vi, mức độ những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.

Hiện nay, trên một số sách báo các luật gia cũng đã ít nhiều đề cập đến một hoặc một số trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, tuy mức độ có khác nhau, nhưng cũng nêu được những đặc trưng cơ bản của các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự. Cũng có một số tác giả gọi các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự là: “những trường hợp loại trừ tính chất phạm tội của hành vi”. Chúng tôi thấy cách gọi của Tiến sĩ khoa học Lê Văn Cảm có nhiều nhân tố hợp lý và chứa đựng các yếu tố khoa học pháp lý hơn. Tuy nhiên, ở nước ta khi nói đến trách nhiệm hình sự là mọi người đều hiểu ngay rằng đó là hậu quả pháp lý mà người đó phải chịu khi thực hiện một hành vi phạm tội, và nếu đối lập với trách nhiệm hình sự là không có trách nhiệm hình sự hay loại trừ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, theo chúng tôi gọi là các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự nó phù hợp với Việt Nam hơn và mọi người dễ hiểu hơn.

Bộ luật hình sự nước ta chưa quy định khái niệm: “trách nhiệm hình sự” cũng như khái niệm “ loại trừ trách nhiệm hình sự” hay “ loại trừ tính chất phạm tội của hành vi” và ngay cả một số trường hợp được coi là không có trách nhiệm hình sự cũng chưa được quy định đầy đủ, cụ thể, còn các trường hợp đã được quy định trong Bộ luật hình sự lại nằm chung trong chương nói về tội phạm (Chương III). Trong quá trình soạn thảo Bộ luật hình sự năm 1999, cũng dã có lần Ban soạn thảo đưa ra quan điểm cần xây dựng một chương riêng, quy định những trường hợp không phải là tội phạm hoặc những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, nhưng vì những lý do khác nhau, nên khi thông qua Bộ luật hình sự vẫn không có chương này. Về khoa học lập pháp, việc quy định như vậy rõ ràng là còn nhiều khiếm khuyết cần được khắc phục khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự. Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự được chia làm ba loại:

  • Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc về yếu tố nhân thân;
  • Hành vi nguy hiểm cho xã hội không có lỗi hoặc không bị coi là có lỗi;
  • Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự khác theo quy định của pháp luật.

Việc nghiên cứu các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự có một ý nghĩa rất lớn. Trước hết nhằm nâng cao trình độ pháp lý của các cán bộ làm công tác pháp luật, mà đặc biệt là đôì với các cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử, các luật sư...thực hiện đúng nguyên tắc tố tụng “không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội”; làm cho mọi người trong xã hội nhận thức được khi nào thì Ịiành vi gây thiệt hại của một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, còn khi nào thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhằm phát huy quyền làm chủ của công dân góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm và những hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội. Khi một người biết rõ mình được làm gì, không được làm gì mà pháp luật quy định thì xã hội thật sự trở thành một xã hội có kỷ cương, Nhà nước thật sự là Nhà nước pháp quyền. Hiện nay ở nhiều nơi có tình trạng vô chính phủ, coi thường pháp luật, nhưng cũng không ít trường hợp do không hiểu biết pháp luật nên lẽ ra phải hành động kịp thời ngăn chặn, nhưng lại cứ tưởng rằng hành động như vậy là phạm tội nên không dám hoặc nếu trót hành động rồi thì tìm cách “chạy chọt” để tránh sự trừng phạt, và không ít người đã lợi dụng sự kém hiểu biết này mà trục lợi bất chính làm mất lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước, với các cơ quan bảo vệ pháp luật gây nhiều hậu quả nguy hiểm khác không đáng có cho xã hội. Ví dụ: Một người có hành vi gây chết người do phòng vệ chính đáng, nhưng vì không hiểu rằng hành vi của mình là hành vi hợp pháp nên đã “chạy chọt” để nhằm “thoát tội” và nếu gặp người hám lợi lại hiểu biết pháp luật thì thật là tai hại; người hám lợi sẽ giả vờ là mình phải “chạy chọt” người này người khác, và bắt người có hành vi gây chết người phải chi cho hắn một khoản tiền. Vậy là tiền mất và mất luôn cả lòng tin vào Nhà nước.

Tìm hiểu những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự giúp cho mọi người vững tin hơn khi hành động, chủ động đấu tranh chống lại những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Nhà nước cấm, từ bỏ những ý định hoặc hành vi có hại cho xã hội mà mình tưởng lầm là không trái pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật, làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, văn minh.

Tìm hiểu những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự còn góp phần hoàn thiện pháp luật mà trước là các quy định của Bộ luật hình sự, làm cho pháp luật từng bước đi vào cuộc sống, loại trừ những quy phạm không phù hợp với cuộc sông cũng như kịp thời bổ sung những quy phạm để điều chỉnh các quan hệ xã hội cần có sự can thiệp của pháp luật.

2. Sự kiện bất ngờ

Trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi phạm tội gây nguy hại cho xã hội thì được coi là sự kiện bất ngờ.

Phân tích: Căn cứ Điều 20 Bộ luật Hình sự năm 2015 khẳng định: Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. So với Bộ luật Hình sự năm 1999, quy định về sự kiện bất ngờ trong Bộ luật Hình sự năm 2015 không có sự thay đổi về bản chất pháp lý, mà chỉ là sự sửa đổi, bổ sung về mặt kỹ thuật lập pháp theo hướng quy định trực tiếp một người thực hiện hành vi được coi là sự kiện bất ngờ và hậu quả pháp lý của nó. Bản chất pháp lý của trường hợp sự kiện bất ngờ là người thực hiện hành vi không có lỗi do họ không tự lựa chọn thực hiện hành vi gây thiệt hại. Họ đã không thấy trước được tính chất nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra. Hoàn cảnh khách quan không cho phép họ có thể thấy trước hậu quả của hành vi. Họ cũng không có nghĩa vụ phải thấy trước việc gây ra hậu quả đó. Do vậy, tính có lỗi - cơ sở để xem xét một hành vi có là tội phạm không, có cần phải xử lý hình sự không đã không được thỏa mãn. Như vậy, trong trường hợp sự kiện bất ngờ, việc chủ thể đã không thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của mình đã gây ra là do khách quan. Đây chính là điểm khác biệt so với các trường hợp như sự kiện bất khả kháng, tình trạng không thể khắc phục được hoặc đối với trường hợp lỗi vô ý vì cẩu thả.

3. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

Một người được coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự khi:

- Đang mắc bệnh tâm thần

- Đang mắc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi

Phân tích: Căn cứ Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015 khẳng định: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. So với Bộ luật Hình sự năm 1999, quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có sự thay đổi về mặt kỹ thuật theo hướng bỏ quy định về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh tại điều luật mà quy định thống nhất về việc áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh tại Điều 49 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, người thực hiện nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại Điều 21 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Theo quy định của điều luật, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự được hiểu là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong trường hợp mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do đang trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác. Như vậy, có 02 dấu hiệu để xác định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, đó là dấu hiệu y học – điều kiện cần, dấu hiệu tâm lý – điều kiện đủ. Cả hai dấu hiệu này có mối liên quan chặt chẽ với nhau, dấu hiệu này là tiền đề của dấu hiệu kia và ngược lại. Có nghĩa rằng họ phải thỏa mãn đồng thời hai dấu hiệu trên, thì mới được coi là người không có năng lực trách nhiệm hình sự.

4. Phòng vệ chính đáng

Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Chống trả một cách cần thiết là khi gặp hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên, chúng ta chỉ thực hiện hành vi chống trả để ngăn cản, phòng ngừa, ở mức độ phù hợp với tính chất, độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm phạm.

Phân tích: Tại khoản 1 điều 22 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm. Một hành vi được coi là phòng vệ chính đáng khi thoả mãn các dấu hiệu sau: Thứ nhất: Có hành vi tấn công đang hiện hữu, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, tổ chức, quyền và lợi ích chính đánh của người phòng vệ hoặc của người khác (cơ sở phát sinh quyền phòng vệ chính đáng). Thứ hai: Hành vi phòng vệ gây thiệt hại cho người xâm phạm là cần thiết (nội dung và phạm vi của phòng vệ chính đáng); Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu TNHS theo quy định của Bộ luật này. Đây là trường hợp người phòng vệ do đánh giá sai tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm, do đó người phòng vệ đã dùng những phương tiện và phương pháp gây ra thiệt hại quá đáng cho người xâm hại mà tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại cũng như hoàn cảnh cụ thể chưa đòi hỏi phải dùng các phương tiện và phương pháp đó. Người phòng vệ vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự do lỗi vượt quá của mình. Tuy nhiên, trách nhiệm hình sự của họ được giảm nhẹ hơn so với các trường hợp bình thường. Mức độ trách nhiệm hình sự được giảm nhẹ nhiều hay ít phụ thuộc vào mức độ vượt quá giới hạn phòng vệ và các trường hợp giảm nhẹ khác.

5. Tình thế cấp thiết

Phân tích: Khoản 1 điều 23 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: Tình thế cấp thiết là một trong những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, đó là tình thế của người đứng trước sự đe dọa đến một lợi ích được pháp luật bảo vệ, và để bảo vệ lợi ích này, người đó không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại cho một lợi ích khác được pháp luật bảo vệ. Để được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết và không phải chịu trách nhiệm hình sự thì phải có đầy đủ các điều kiện sau đây: Thứ nhất: Phải có sự đe dọa hiện hữu và thực tế xâm phạm đối với lợi ích được pháp luật bảo vệ (tức là lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, lợi ích chính đáng của bản thân người thực hiện hành vi hay của người khác); Thứ hai: Hành vi gây thiệt hại là biện pháp duy nhất để khắc phục sự nguy hiểm; Thứ ba: Thiệt hại trong tình thế cấp thiết gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết là tình trạng một người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là gây thiệt hại bằng hoặc lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Đây là trường hợp chủ thể có cơ sở để hành động trong tình thế cấp thiết nhưng đã vượt quá phạm vi cho phép. Cũng giống như vượt quá yêu cầu của phòng vệ chính đáng, người có hành vi gây thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì cũng phải chịu trách nhiệm hình sự. Khoản 2 Điều 24 khẳng định: trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự. Mặc dù, vượt quá tình thế cấp thiết phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng được giảm nhẹ vì tính chất của động cơ và vì hoàn cảnh phạm tội. Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự có quy định một cách cụ thể, rõ ràng: vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết là một trong những tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự - cơ sở để giảm nhẹ hình phạt trong phạm vi của khung luật tương ứng

6. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

Phân tích: Theo khoản 1 điều 24 Bộ luật Hình sự 2015 quy đinh: hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm. Việc ghi nhận, bổ sung trường hợp này là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Quy định này phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm là phải dựa vào sức mạnh của cả hệ thống chính trị, huy động toàn thể xã hội chung sức, chung lòng phát huy tính tích cực của công dân trong cuộc đấu tranh này. Mặt khác, khuyến khích, phát huy tinh thần chủ động đấu tranh ngăn chặn hành vi phạm tội và bắt giữ kịp thời những người đang lẩn trốn sự trừng trị của pháp luật, cũng như là “minh chứng về ý thức pháp luật và tính tích cực đối với trách nhiệm công dân của người bắt giữ…”. Để được coi là gây thiệt hại trong bắt giữ người phạm tội là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, hành vi bắt giữ phải thỏa măn các điều kiện sau: Thứ nhất: Hành vi bắt giữ phải thuộc về các chủ thể có thẩm quyền bắt giữ người phạm tội; Thứ hai: Hành vi dùng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt giữ phải là biện pháp cuối cùng, không còn cách nào khác để bắt giữ người phạm tội; Thứ ba: Hành vi dùng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt giữ phải là cần thiết. Bên cạnh đó, để tránh tình trạng lạm dụng quy định này mà những người bắt giữ người phạm tội đã sử dụng vũ lực quá mức cần thiết gây tổn hại sức khỏe, thể chất của người bị bắt giữ cũng như các quyền, lợi ích hợp pháp khác của họ, Khoản 2 Điều 24 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự”. Quy định này được xây dựng dựa trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về quyền được bảo vệ về sức khỏe, về thân thể kể cả khi người đó là người bị bắt giữ: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”. Đồng thời, quy định này cũng thể hiện tính ưu việt của hoạt động nội luật hóa Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người Tuy nhiên, đối với trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết cho người bị bắt giữ, thì người gây thiệt hại tuy phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng pháp luật hình sự Việt Nam vẫn xác định đó là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 51 và trong một số tội phạm liên quan đến việc bắt giữ người phạm tội, thì mức độ trách nhiệm hình sự cũng được quy định theo hướng giảm nhẹ, cụ thể: Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội quy định tại Điều 126 và Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội quy định tại Điều 136 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quy định này thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước đối với các trường hợp phạm tội cụ thể, đảm bảo cơ chế pháp lý để mọi người dân có ý thức tôn trọng và bảo vệ pháp luật.

7. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ

Nhiều lúc, khi thực hiện nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới sẽ không tránh khỏi rủi ro không mong muốn. Tuy nhiên, một người chỉ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu rủi ro xảy ra dù đã tuân thủ đúng quy trình, kỹ thuật, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà công việc yêu cầu.

Phân tích: Theo điều 25 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, đó là hành vi của một người đã gây thiệt hại khi tiến hành, thực hiện việc nghiên cứu, thủ nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa. Hành vi gây thiệt trong trường hợp nói trên không phải là tội phạm. Việc quy định, bổ sung trường hợp này là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa khuyến khích sự sáng tạo, đổi mới công nghệ, tạo động lực, động viên sự sáng tạo của các nhà khoa học, nhà sản xuất. Mặt khác, tạo hành lang pháp lý an toàn để người dân an tâm tham gia vào các hoạt động sản xuất, nghiên cứu khoa học có tính chất “đột phá” vì lợi ích chung. Để coi rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, hành vi gây thiệt hại trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ phải thỏa mãn các điều kiện sau: Thứ nhất: Hành vi gây thiệt hại trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ phải nhằm mục đích đem lại lợi ích cho xã hội; Thứ hai: Lĩnh vực của hành vi gây thiệt hại chỉ giới hạn trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; Thứ ba: Người gây ra thiệt hại đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa. Thực tế cho thấy, được coi là rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ nếu những rủi ro này xảy ra khi tiến hành các hoạt động nhằm mục đích phục vụ lợi ích xã hội và mục đích đó không thể đạt được nếu không có sự mạo hiểm cần thiết và người thực hiện sự mạo hiểm cần thiết đó đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra cho các lợi ích hợp pháp được pháp luật hình sự bảo vệ. Việc quy định trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự này có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo ra động lực mới cho sự phát triển, tiến bộ không ngừng của nền khoa học, kỹ thuật nước nhà, khơi dậy tinh thần và ngọn lửa đam mê nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới của các nhà khoa học, các chuyên gia và của mọi người dân trong xã hội. Bên cạnh đó, không được thừa nhận là rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ nếu người nào đó trước khi tiến hành hoạt động nghề nghiệp, sản xuất hoặc nghiên cứu khoa học đã nhìn thấy trước nguy cơ đe dọa tính mạng con người, đe dọa gây ra thảm họa môi trường hoặc tai họa cho xã hội và không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này góp phần khắc phục tình trạng thiếu trách nhiệm trong các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, góp phần giảm thiểu đến mức thấp nhất những nguy cơ xảy ra thiệt hại của các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ.

8. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên

Trong khi thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, khi đang thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên, nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo nhưng vẫn buộc phải chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Khi đó, người ra mệnh lệnh mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Phân tích: Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự chính thức được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, đó là hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó. Hành vi gây thiệt hại trong trường hợp này không phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc quy định, bổ sung trường hợp thi hành mệnh lệnh của người chủ huy hoặc cấp trên là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự sẽ góp phần đảm bảo tuân thủ tuyệt đối, triệt để nguyên tắc "cấp dưới phải phục tùng cấp trên" đối với mệnh lệnh, chỉ thị hay quyết định trong lực lượng vũ trang nhân dân, đảm bảo tính kỷ luật, sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân. Để coi thi hành mệnh lệnh của người chủ huy hoặc cấp trên là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, khi hành vi gây thiệt hại khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên phải thỏa mãn các điều kiện sau: Thứ nhất: mệnh lệnh mà người có hành vi gây thiệt hại thi hành phải là mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên (người có thẩm quyền) thuộc lực lượng vũ trang nhân dân; Thứ hai: mục đích của việc thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên thuộc lực lượng vũ trang phải nhằm mục đích thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; Thứ ba: người có hành vi gây thiệt hại đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó; Thứ tư: việc thi hành mệnh lệnh này không thuộc trường hợp phạm tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược do thi hành mệnh lệnh của cấp trên (khoản 2 Điều 421), tội chống loài người do thi hành mệnh lệnh của cấp trên (khoản 2 Điều 422), tội phạm chiến tranh do thi hành mệnh lệnh của cấp trên (khoản 2 Điều 423). Như vậy, hành vi gây thiệt hại thi hành mệnh lệnh của người chủ huy hoặc cấp trên thỏa mãn các điều kiện nói trên sẽ được coi là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự và người thực hiện hành vi gây thiệt hại này sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, đối với người ra mệnh lệnh nói trên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Thực tiễn cho thấy, trong hoạt động quản lý nhà nước, quản lý hành chính nhà nước nói chung, trong tổ chức và hoạt động của các lực lượng vũ trang nhân dân nói riêng, quan hệ phục tùng - mệnh lệnh có tính đặc thù, xuất phát từ tính chất và yêu cầu kỷ luật tuyệt đối, thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên là yêu cầu bắt buộc đối với cấp dưới để thực hiện những nhiệm vụ liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Mặc dù vậy, những người cấp dưới thuộc biên chế của lực lượng vũ trang nhân dân đều là những người am hiểu về lĩnh vực công tác của mình, có khả năng nhận thức được đầy đủ tính chất của mệnh lệnh mà cấp trên ban hành là đúng hay không đúng. Vì vậy, việc thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên không phải bao giờ cũng loại trừ trách nhiệm hình sự của người thi hành mệnh lệnh. Nói cách khác, nếu người thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên không biết hoặc không có nghĩa vụ phải biết rõ mệnh lệnh là bất hợp pháp thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Ngược lại, trách nhiệm hình sự có thể được đặt ra đối với người thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên có tính chất trái pháp luật và nguy hiểm đáng kể gây thiệt hại cho xã hội, nếu người thi hành mệnh lệnh nhận thức được và buộc phải nhận thức được tính trái pháp luật của mệnh lệnh mà không thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người chỉ huy hoặc cấp trên đã ra mệnh lệnh. Đặc biệt, quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên không được áp dụng đối với các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 421 (Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược), Khoản 2 Điều 422 (Tội chống loài người) và Khoản 2 Điều 423 (Tội phạm chiến tranh) chương XXVI (Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh) của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bộ luật Hình sự năm 2015 đã chính thức quy định các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự thành một chương thống nhất với 07 trường hợp cụ thể thay vì, quy định mang tính chất tản mạn như trong Bộ luật Hình sự năm 1999. Điều này đã góp phần vào việc nhận thức thống nhất về phạm vi các trường hợp được coi là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, nên sử dụng thống nhất thuật ngữ quy định về hậu quả pháp lý của các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự là không phải chịu trách nhiệm hình sự thay vì có trường hợp quy định không phải chịu trách nhiệm hình sự (Sự kiện bất ngờ, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên), có trường hợp quy định không phải là tội phạm (04 trường hợp còn lại). Bởi lẽ, suy cho cùng dù có thuộc trường hợp không phải là tội phạm hay trường hợp đã hoặc có thể là tội phạm, nhưng được coi không phải là tội phạm thì đều không đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi gây thiệt hại, vì hành vi gây thiệt hại của họ thuộc các trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự.