1. Khái quát người vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Người vận chuyển là người tự mình hoặc ủy quyền cho người khác giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển với người thuê vận chuyển. (khoản 2 Điều 147 Bộ luật hàng hải Việt nam năm 2015)

Như vậy, theo quy định tại điều luật, người vận chuyển là người, họ có thể tự mình vận chuyển hàng hóa hoặc người này ủy quyền cho người khác giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển với người thuê vận chuyển.

Như vậy, Người vận chuyển họ có thể tự mình vận chuyển hoặc ủy quyền cho người khác, mặc dù vậy nhưng họ phải có nghĩa vụ mẫn cán để trước và khi bắt đầu chuyến đi, tàu biển có đủ khả năng đi biển, có thuyền bộ thích hợp, được cung ứng đầy đủ trang thiết bị và vật phẩm dự trữ; các hầm hàng, hầm lạnh và khu vực khác dùng để vận chuyển hàng hóa có đủ các điều kiện nhận, vận chuyển và bảo quản hàng hóa phù hợp với tính chất của hàng hóa.

Khi người vận chuyển ủy quyền cho bên thứ ba, lúc này bên thứ ba sẽ là Người vận chuyển thực tế , và người Người vận chuyển thực tế là người được người vận chuyển ủy thác thực hiện toàn bộ hoặc một phần việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.

Trân trọng!

2. Người vận chuyển chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa trên cơ sở những nguyên tắc nào?

Theo quy định của khoản 3 điều 152 Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 có quy định:

"Trong trường hợp chủng loại và giá trị hàng hóa được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng và được người vận chuyển chấp nhận, ghi vào chứng từ vận chuyển thì người vận chuyển chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa trên cơ sở giá trị đó theo nguyên tắc sau đây:

a) Đối với hàng hóa bị mất mát thì bồi thường bằng giá trị đã khai báo;

b) Đối với hàng hóa bị hư hỏng thì bồi thường bằng mức chênh lệch giữa giá trị khai báo và giá trị còn lại của hàng hóa.

Giá trị còn lại của hàng hóa được xác định trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm và địa điểm dỡ hàng hoặc lẽ ra phải dỡ hàng; nếu không xác định được thì căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm và địa điểm bốc hàng cộng thêm chi phí vận chuyển đến cảng trả hàng."

Như vậy, nếu trường hợp chủng loại và giá trị hàng hóa được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng được người vận chuyển chấp nhận, ghi vào chứng từ vận chuyển thì người vận chuyển sẽ phải chịu trách nhiệm về bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa trên cơ sở giá trị đó theo 2 nguyên tắc: "Đối với hàng hóa bị mất mát thì bồi thường bằng giá trị đã khai báo" hoặc là "Đối với hàng hóa bị hư hỏng thì bồi thường bằng mức chênh lệch giữa giá trị khai báo và giá trị còn lại của hàng hóa."

Trân trọng!

3. Đơn vị tính toán về giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Theo quy định của Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 thì giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển đối với tổn thất, mất mát của hàng hóa tối đa tương đương 666,67 đơn vị tính toán cho một kiện hàng hay một đơn vị hàng hóa hoặc 2 đơn vị tính toán cho một kilogram hàng hóa cả bì bị tổn thất, tùy theo cách tính nào cao hơn. Đơn vị tính toán quy định trong Bộ luật này là đơn vị tiền tệ do Quỹ tiền tệ quốc tế xác định và được quy ước là Ọuyền rút vốn đặc biệt (SDR). Tiền bồi thường được chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán bồi thường.

Cụ thể tại khoản 1 điều 152 Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 như sau:

"Điều 152. Giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển

1. Trong trường hợp tính chất, giá trị của hàng hóa không được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng hoặc không được ghi rõ trong vận đơn, giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khác thì người vận chuyển chỉ có nghĩa vụ bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa hoặc tổn thất khác liên quan đến hàng hóa trong giới hạn tối đa tương đương với 666,67 đơn vị tính toán cho mỗi kiện hoặc cho mỗi đơn vị hàng hóa hoặc 02 đơn vị tính toán cho mỗi kilôgam trọng lượng cả bì của số hàng hóa bị mất mát, hư hỏng tùy theo giá trị nào cao hơn.

Đơn vị tính toán quy định trong Bộ luật này là đơn vị tiền tệ do Quỹ tiền tệ quốc tế xác định và được quy ước là Quyền rút vốn đặc biệt.

Tiền bồi thường được chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán bồi thường..."

Như vậy, đơn vị tính toán về giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được xác định là đơn vị tiền tệ do Quỹ tiền tệ quốc tế xác định và được quy ước là Quyền rút vốn đặc biệt.

Tiền bồi thường này sẽ được chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán bồi thường.

Ví dụ: Một lô hàng bị mất và người vận chuyển có đủ các điều kiện để được hưởng giới hạn trách nhiệm đối với lô hàng đó. Căn cứ vào đơn vị tính toán theo Bộ luật hàng hải Việt Nam là đơn vị tiền tệ do Ọuỹ tiền tệ quốc tế xác định và được quy ước là “Quyền rút vốn đặc biệt”, tiền bồi thường được chuyển đổi thành tiền Việt Nam (theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán bồi thường). Giả sử 666,67 SDR tương đương 16 triệu đồng Việt Nam (VNĐ), 2 SDR bằng 47.999, 76 VNĐ, kiện hàng nặng 120kg. Số tiền bồi thường theo kiện sẽ là 16 triệu VNĐ (666,67 DSR/kiện), trong khi theo kilogram, chưa đươc 5,8 triệu VNĐ (120kg X 47. 999,76 VNĐ/kg = 5.759.971,20 VNĐ). Như vậy, người vận chuyển phải bồi thường số tiền là 16 triệu đồng.

Trân trọng!

4. Quy định về giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Ngoài những trường hợp người vận chuyển được miễn trách nhiệm, người vận chuyển còn được quyền giới hạn trách nhiệm khi bồi thuờng tổn thất, mất mát của hàng hóa.

Theo Quy tắc Hague thì trong bất kỳ trường hợp nào người vận chuyển không phải chịu trách nhiệm về tổn thất, mất mát của hàng hóa vượt quá số tiền 100 Bảng Anh đối với một kiện hàng hay một đơn vị hàng hóa, trừ khi người gửi hàng đã kê khai giá trị của hàng hóa đó trước khi xếp hàng lên tàu và giá trị của hàng được ghi rõ trên vận đơn.

Trong Quy tắc Hague-Visby mức giới hạn trách nhiệm bồi thường của người vận chuyển đuợc nâng lên 10.000 franc vàng cho một kiện hàng hay một đơn vị hàng hóa hoặc 30 franc vàng cho một kilôgam hàng hóa kể cả bao bì bị tổn thất, tùy theo cách tính nào cao hơn.

Năm 1979, Nghị định thư SDR được thông qua để sửa đổi Quy tắc Hague-Visby, theo đó đồng tiền để tính giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển được đổi thành đồng SDR (Ọuyền rút vốn đặc biệt - Special Drawing Right) của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) với mức là 666,67 SDR cho một kiện hàng hay một đơn vị hàng hóa hoặc 2 SDR cho một kilôgam hàng hóa cả bì bị tổn thất, tùy theo cách tính nào cao hơn. Giới hạn trách nhiệm này được áp dụng cho các nước thành viên của Quỹ tiền tệ quốc tế.

Mức giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển theo Quy tắc Hamburg là 835 SDR cho một kiện hàng hay một đơn vị hàng hóa hoặc 2,5 SDR cho một kilôgam hàng hóa cả bì bị tổn thất, tùy theo cách tính nào cao hơn. Đối với các nước không phải là thành viên Quỹ tiền tệ quốc tế hoặc những nước mà pháp luật cấm sử dụng đồng SDR, thì có thể tính giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển theo đơn vị tiền tệ MU (Monetary Unit) với mức là 12.500 MU cho một kiện hàng hay một đơn vị hàng hóa hoặc 37,5 MU cho một kilogram hàng hóa cả bì bị tổn thất, tùy theo cách tính nào cao hơn. Theo quy định, một MU tương đương với 65,5 mg vàng với độ nguyên chất là 900/1.000.

Mức giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển theo quy định của Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 1990 tương tự như mức quy định trong Quy tắc Hague-Vỉsby, tức là 10.000 franc vàng cho một kiện hàng hay một đơn vị hàng hóa hoặc 30 franc vàng cho một kilogram hàng hóa kể cả bao bì bị tổn thất, tùy theo cách tính nào cao hơn.

Theo quy định của Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 thì giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển đối với tổn thất, mất mát của hàng hóa tối đa tương đương 666,67 đơn vị tính toán cho một kiện hàng hay một đơn vị hàng hóa hoặc 2 đơn vị tính toán cho một kilogram hàng hóa cả bì bị tổn thất, tùy theo cách tính nào cao hơn. Đơn vị tính toán quy định trong Bộ luật này là đơn vị tiền tệ do Quỹ tiền tệ quốc tế xác định và được quy ước là Ọuyền rút vốn đặc biệt (SDR). Tiền bồi thường được chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán bồi thường.

Như vậy, giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển quy định trong Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 tưong tự như quy định tại Nghi định thư SDR sửa đổi Quy tắc Hague-Visby, với mức là 666,67 SDR cho một kiện hàng hay một đon vị hàng hóa hoặc 2 SDR cho một kilogram hàng hóa cả bì bị tổn thất, tùy theo cách tính nào cao hơn.

Mức giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển đối với việc chậm trả hàng theo quy đinh của Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 và Ọuy tắc Hamburg là số tiền bằng 2,5 lần tiền cước của số hàng trả chậm, nhưng không vượt quá tổng số tiền cước phải trả theo hợp đồng vận chuyển hàng hóa bàng đường biển.

Trân trọng!

5. "Tùy theo giá trị hàng hóa" trong việc xác định giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển là gì?

Theo quy định của Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 về giới hạn tối đa về bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa hoặc tổn thất khác liên quan đến hàng hóa, có đoạn quy định: "... tùy theo giá trị hàng hóa...”. Như vậy “tùy theo giá trị hàng hóa” là gì? Ai có quyền lựa chọn mức bồi thuờng trong trường hợp này?

Theo Điều 152 Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 như sau:

"Điều 152. Giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển

1. Trong trường hợp tính chất, giá trị của hàng hóa không được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng hoặc không được ghi rõ trong vận đơn, giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khác thì người vận chuyển chỉ có nghĩa vụ bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa hoặc tổn thất khác liên quan đến hàng hóa trong giới hạn tối đa tương đương với 666,67 đơn vị tính toán cho mỗi kiện hoặc cho mỗi đơn vị hàng hóa hoặc 02 đơn vị tính toán cho mỗi kilôgam trọng lượng cả bì của số hàng hóa bị mất mát, hư hỏng tùy theo giá trị nào cao hơn.

Đơn vị tính toán quy định trong Bộ luật này là đơn vị tiền tệ do Quỹ tiền tệ quốc tế xác định và được quy ước là Quyền rút vốn đặc biệt.

Tiền bồi thường được chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán bồi thường...”

Theo khoản 1 của Điều luật trên, chúng ta có thể tham khảo Công ước Hague-Visby Rules - Rule IV, item 5 (a) như sau: (a) Unless the nature and value of such goods have been declared by the shipper before shipment and inserted in the bill of lading, neither the carrier nor the ship shall in any event be or become liable for any loss or damage to or in connection with the goods in an amount exceeding the equivalent of 666. 67 units of account per package or unit or 2 units of account per kilo of gross weight of the goods lost or damaged, whichever is the higher," ở đây có một điểm khác cơ bản so với phần tiếng Việt (Khoản 1, Điều 152 là nhóm từ “whichever is the higher” mà lẽ ra phải dịch là “tùy theo mức bòi thường nào cao hơn”.

Tuy là “tùy theo mức bồi thường nào cao hơn” nhưng cả hai bên - người vận chuyển và chủ hàng (người giao hàng/người gửi hàng...) đều không có quyền lựa chọn sau khi đã tính toán cụ thể về hai khoản tiền đó. Việc xem xét hai số tiền ở đây là nhằm bảo đảm rằng giới hạn số tiền bồi thường sẽ được xác định trên cơ sở so sánh (hai số tiền) để có được số tiền có giới hạn cao hơn.

Như vậy, số tiền bồi thường phụ thuộc vào việc tính toán để tìm ra giới hạn trách nhiệm ở mức cao hơn. Cần chú ý là phải căn cứ vào tính chất của hàng hóa để xem có “tính toán” được không. Chẳng hạn như, đối với hàng rời (in bulk) thì không thể xác định giới hạn trách nhiệm theo kiện (per package) được. Thực tế cho thấy, chủ hàng (người gửi hàng/người nhận hàng...) có quyền và chắc chắn là sẽ đòi bồi thường trên cơ sở theo kiện (per-package) hoặc theo kilogram (per-kilo) trọng lượng cả bì với số tiền nào cao hơn. Quyền đòi bồi thường theo kiện chỉ được thực hiện nếu người gửi hàng đã ghi số lượng kiện trong vận đơn. Đây là điều đặc biệt quan trọng. Cần lưu ý trong trường hợp vận chuyển hàng hóa bằng container, nếu không ghi lên vận đơn số lượng kiện hàng đóng trong container thì cả container chỉ được tính là một kiện hoặc một đơn vị hàng hóa.

Trong phần dịch Bộ luật hàng hải Việt Nam sang tiếng Anh của cuốn sách “Bộ luật hàng hải Việt Nam - Vietnam Maritime Code”, Nhà xuất bản Giao thông vận tải (quý 1/2008), trang 158, câu “tùy theo giá trị hàng hóa” được dịch là "whichever is the higher". Như vậy, bản tiếng Anh (tuy chỉ có giá trị tham khảo) nhưng lại đúng như Qui tắc Hague- Visby (đã dẫn ở trên) nên dễ dàng thực hiện.

Về “kỹ thuật” đòi tiền sao cho có lợi hơn, dẽ dàng thấy rằng theo quy định của Qui tắc Hague-Visby, Rule rv, item 5(a), khi trọng lượng của một kiện hàng hóa bị mất lớn hơn 333,33 ki-lô-gam thì đòi bồi thương theo mức 2 SDR/kg sẽ có lợi hơn, vì số tiền bồi thường sẽ vượt quá giới hạn tính cho một kiện và ngược lại (khi khối lượng của một kiện hàng hóa bị mất nhỏ hơn 333,33 ki-lô-gam thì đòi bồi thương theo “kiện” sẽ có lợi hơn). Giá trị bồi thường còn phụ thuộc vào giá trị của đồng tiền chuyển đổi giữa SDR và đồng tiền địa phương.

Trân trọng!

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Đơn vị tính toán về giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển hàng hóa bằng đường biển bằng đơn vị gì?

Trả lời:

"Điều 152. Giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển

1. Trong trường hợp tính chất, giá trị của hàng hóa không được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng hoặc không được ghi rõ trong vận đơn, ... tổn thất khác liên quan đến hàng hóa trong giới hạn tối đa tương đương với 666,67 đơn vị tính toán cho mỗi kiện hoặc cho mỗi đơn vị hàng hóa hoặc 02 đơn vị tính toán cho mỗi kilôgam trọng lượng cả bì của số hàng hóa bị mất mát, hư hỏng tùy theo giá trị nào cao hơn.

Đơn vị tính toán quy định trong Bộ luật này là đơn vị tiền tệ do Quỹ tiền tệ quốc tế xác định và được quy ước là Quyền rút vốn đặc biệt..."

=> Đơn vị tính toán về giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển hàng hóa bằng đường biển bằng đơn vị tiền tệ do Quỹ tiền tệ quốc tế xác định và được quy ước là Quyền rút vốn đặc biệt.

Câu hỏi: Người vận chuyển chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa trên cơ sở những nguyên tắc nào theo pháp luật hàng hải?

Trả lời:

Theo quy định của khoản 3 điều 152 Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015  có quy định:

"Trong trường hợp chủng loại và giá trị hàng hóa được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng và được người vận chuyển chấp nhận, ghi vào chứng từ vận chuyển thì người vận chuyển chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa trên cơ sở giá trị đó theo nguyên tắc sau đây:

a) Đối với hàng hóa bị mất mát thì bồi thường bằng giá trị đã khai báo;

b) Đối với hàng hóa bị hư hỏng thì bồi thường bằng mức chênh lệch giữa giá trị khai báo và giá trị còn lại của hàng hóa.

Giá trị còn lại của hàng hóa được xác định trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm và địa điểm dỡ hàng hoặc lẽ ra phải dỡ hàng; nếu không xác định được thì căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm và địa điểm bốc hàng cộng thêm chi phí vận chuyển đến cảng trả hàng."

Câu hỏi: Trong trường hợp tính chất, giá trị của hàng hóa không được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng hoặc không được ghi rõ trong vận đơn thì người vận chuyển có nghia vụ như thế nào?

Trả lời:

Điều 152. Giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển

"1. Trong trường hợp tính chất, giá trị của hàng hóa không được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng hoặc không được ghi rõ trong vận đơn, giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khác thì người vận chuyển chỉ có nghĩa vụ bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa hoặc tổn thất khác liên quan đến hàng hóa trong giới hạn tối đa tương đương với 666,67 đơn vị tính toán cho mỗi kiện hoặc cho mỗi đơn vị hàng hóa hoặc 02 đơn vị tính toán cho mỗi kilôgam trọng lượng cả bì của số hàng hóa bị mất mát, hư hỏng tùy theo giá trị nào cao hơn..."

(Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015).