1. Các doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân
Luật Doanh nghiệp định nghĩa: “doanh nghiệp là tổ chức kinh tế... được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như vậy danh từ “doanh nghiệp” rộng hơn danh từ “công ty”. Công ty tiên niệm phải có sự hùn hiệp tài sản giữa ít nhất là hai người, trong khi doanh nghiệp có thể là một tổ chức kinh tế do một người làm chủ. Theo luật hiện hành chúng ta có hai tổ chức kinh tế thuộc dạng này, đó là Doanh nghiệp tư nhân và Hộ kinh doanh cá thể. Có thể nói đây là hai tổ chức kinh tế đầu tiên được pháp luật cho phép thành lập và hoạt động ở Việt Nam sau khi có chính sách đổi mới. Theo một nghiên cứu của tổ chức MPDF (Chương trình phát triển kinh tế tư nhân) thì trong 4 năm từ ngày 01.01.2000 đến ngày 31.12.2003 trên toàn quốc tổng số các doanh nghiệp đăng ký là 83.490 trong đó Doanh nghiệp tư nhân chiếm 27.865; điều này cho thây Doanh nghiệp tư nhân hiện nay chiếm một địa vị quan trọng trong nền kinh tế quốc dân (Chuyên đề nghiên cứu kinh tế tư nhân số 20).
Còn đối với Hộ kinh doanh cá thể, chính sách của nhà nước là khuyến khích các tổ chức này chuyển sang hình thức kinh doanh khác; tuy nhiên đến nay nó vẫn tồn tại dù số lượng không nhiều và chủ yếu là kinh doanh nhỏ.
Đặc điểm của Doanh nghiệp tư nhân và Hộ kinh doanh cá thể là các tổ chức này không có tư cách pháp nhân, không có sản nghiệp riêng. Tư cách pháp lý của doanh nghiệp được đồng hoá với chủ doanh nghiệp, toàn bộ tài sản của chủ doanh nghiệp là vật thế chấp chung của các chủ nợ, chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân và không giới hạn về các khoản nợ của doanh nghiệp.
2. Hộ kinh doanh cá thể
Hộ kinh doanh cá thể được quy định bởi Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 66-HĐBT ngày 02.03.1992. Luật Doanh nghiệp năm 2000 không dự liệu dạng kinh doanh này nhưng không hủy bỏ nghị định nói trên, do đó Hộ kinh doanh cá thể vẫn tồn tại mặc dù Điều 123 Luật Doanh nghiệp quy định: “Chính phủ hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để Hộ kinh doanh cá thể có quy mô lớn đang hoạt động theo Nghị định số 66 HĐBT ngày 02.03.1992 chuyển thành doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Luật này”.
“Hộ kinh doanh cá thể có quy mô nhỏ thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ”. Nay Nghị định số 78/2015/NĐ-CP đã quy định: “Hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên từ 10 lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật này. Hộ kinh doanh có quy mô nhỏ thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ”.
Như vậy, Hộ kinh doanh cá thể có quy mô lổn phải chuyển đổi sang hình thức công ty hay DNTN, còn các hộ kinh doanh có quy mô nhỏ thì có thể tiếp tục hoạt động dưới dạng này.
3. Đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh:
Thứ nhất, hộ kinh doanh do một cá nhân, một nhóm người hoặc hộ gia đình làm chủ (hộ kinh doanh thuộc sở hữu một chủ hoặc nhiều chủ).
Đối với hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ thì hộ kinh doanh thuộc sở hữu của một chủ là cá nhân và cá nhân chủ hộ kinh doanh có toàn quyền quyết định hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh (giống như chủ doanh nghiệp tư nhân). Đối với hộ kinh doanh do một nhóm người hoặc hộ gia đình làm chủ thì hộ kinh doanh thuộc sở hữu của nhiều chủ. Hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh do các thành viên trong nhóm hoặc các thành viên trong hộ gia đình quyết định. Nhóm người hoặc hộ gia đình cử một người đại diện cho nhóm hoặc cho hộ để tham gia giao dịch với bên ngoài.
Thứ hai, hộ kinh doanh thường kinh doanh với quy mô kinh doanh nhỏ: có một địa điểm kinh doanh, sử dụng không quá 10 lao động.
So với doanh nghiệp thì hộ kinh doanh có quy mô kinh doanh nhỏ thể hiện qua các tiêu chí: hộ kinh doanh chỉ có một địa điểm kinh doanh và sử dụng không quá 10 lao động. Hộ kinh doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định. Khác với hộ kinh doanh, các doanh nghiệp ngoài trụ sở chính có thể mở các chi nhánh, văn phòng, địa điểm kinh doanh và nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng số lượng nhiều lao động.
Hộ kinh doanh cũng có đặc điểm khác với hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp vì hộ kinh doanh thường xuyên và có thu nhập chính từ hoạt động kinh doanh. Có nghĩa là kinh doanh là nghề nghiệp chính của hộ kinh doanh nên hộ kinh doanh vẫn phải tiến hành đăng ký hộ kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương.
Thứ ba, chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh.
Bản chất của trách nhiệm vô hạn trong kinh doanh của hộ kinh doanh cũng giống như trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân: nếu tài sản kinh doanh không đủ để trả nợ thì hộ kinh doanh phải lấy cả tài sản không đàu tư vào hộ kinh doanh để trả nợ. Thời điểm để trả nợ là thời điểm hộ kinh doanh phải thanh toán các khoản nợ đến hạn cho chủ nợ. Cách thức thanh toán nợ khi doanh nghiệp tư nhân mất khả năng thanh toán có thể được thực hiện theo quy định của pháp luật phá sản nhưng hộ kinh doanh chỉ có thể đòi và thanh toán nợ theo trình tự giải quyết đòi nợ trong vụ án dân sự mà không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật phá sản.
Tuy nhiên, khác với doanh nghiệp tư nhân, trách nhiệm vô hạn của hộ kinh doanh có sự phân tán rủi ro cho nhiều thành viên trong trường hợp hộ kinh doanh do một nhóm người hoặc hộ gia đình làm chủ.
Nếu hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ thì tất cả các thành viên phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của hộ kinh doanh.
Nếu hộ kinh doanh do một hộ gia đình làm chủ thì tất cả các thành viên trong hộ gia đình phải liên đới chịu trách nhiệm. Khi tài sản chung của hộ gia đình không đủ để trả nợ thỉ các thành viên của hộ gia đình phải lấy cả tài sản riêng để trả nợ và phải trả cho các thành viên khác của hộ gia đình (trách nhiệm liên đới).
4. Thành lập Hộ kinh doanh
Theo Điều 01 Nghị định 66 HĐBT thì Hộ kinh doanh cá thể là cá nhân hay nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định được ấn định bởi Nghị định số 221 HĐBT ngày 23.07.1991.
Nghị định số 221 HĐBT là văn bản cụ thể hoá một số điều của Luật Doanh nghiệpTN ngày 21.12.1990. Nghị định đưa ra một danh mục vốn pháp định đốì với từng ngành nghề: cơ khí từ 80.000.000đ đến 150.000.000đ; điện tử từ 40.000.000đ đến 80.000.000d; hoá chất từ 100.000.000d đến 150.000.000đ; dệt may 150.000.000d; hàng tiêu dùng từ 25.000.000đ đến 120.000.000d; chế biến lương thực thực phẩm 40.000.000đ; thủy sản từ 25.000.000đ đến 40.000.000d; vận tải từ 80.000.000đ đến 130.000.000đ; thương nghiệp từ 20.000.000đ đến 70.000.000đ; cửa hàng ăn uống 25.000.000đ; khách sạn 150.000.000d...
Như vậy, muốn xem một tổ chức kinh doanh có thể được đăng ký dưới dạng Hộ kinh doanh cá thể hay không thì phải xem vốn đầu tư của tổ chức này có ở dưới mức vốn pháp định nói trên hay không.
Nhưng Luật Doanh nghiệp tư nhân ngày 21.12.1990 đã bị Luật Doanh nghiệp năm 2000 bãi bỏ, Nghị định số 221 HĐBT cụ thể hoá Luật trên cũng đương nhiên không còn hiệu lực.
Nay Luật Doanh nghiệp 2005 và hiện hành là Nghị định số 78/2015/NĐ-CP đặt ra một tiêu chuẩn mới: Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ chỉ sử dụng không quá 10 lao động. Hộ kinh doanh cá thể sử dụng hơn 10 lao động phải chuyển đổi thành doanh nghiệp.
Như vậy, quy mô của Hộ kinh doanh cá thể tùy thuộc vào số lao động và sốđịa điểm kinh doanh. Từ 10 lao động trở xuống là quy mô nhỏ; trên 10 lao động là quy mô lốn.
Tóm lại, Hộ kinh doanh cá thể nay phải hiểu là tổ chức kinh doanh do cá nhân hay hộ gia đình làm chủ, sử dụng nhiều nhất là 10 lao động, vốn đầu tư không bị hạn chế mức tối thiểu hay tối đa.
Hộ kinh doanh cá thể không có tư cách pháp nhân, không có con dấu, chủ hộ phải chịu trách nhiệm cá nhân trên toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ trong việc kinh doanh.
Mọi cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lân, các hộ gia đình đều có quyền đăng ký kinh doanh; mỗi cá nhân, hộ gia đình chỉ được đăng ký một Hộ kinh doanh cá thể. Việc đăng ký kinh doanh Hộ kinh doanh cá thể được thực hiện theo quy định của Nghị định số 78/2015/NĐ-CP.
Cá nhân hoặc người đại diện hộ gia đình gửi đơn đãng ký thành lập Hộ kinh doanh cá thể đến phòng đăng ký kinh doanh cấp quận huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh. Nội dung gồm:
+ Họ tên, số chứng minh nhân dân, chữ ký và nơi cư trú của cá nhân hoặc đại diện hộ gia đình;
+ Địa chỉ địa điểm kinh doanh;
+ Ngành nghề kinh doanh;
+ Số vốn kinh doanh;
Đối với ngành nghề mà luật quy định phải có chứng chỉ hành nghề thì phải kèm theo đơn, bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của cá nhân hay đại diện hộ gia đình.
Hộ kinh doanh được tự chủ lựa chọn ngành nghề thích hợp, nhưng ngành nghề này phải không thuộc danh mục bị pháp luật cấm đoán. Hộ kinh doanh có quyền đặt tên riêng miễn là tên này không trùng hợp với tên của hộ khác, và không trái pháp luật.
Hộ kinh doanh cá thể được quyền hoạt động sau khi được phòng đăng ký kinh doanh cấp quận, huyện cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
5. Quản lý Hộ kinh doanh
Cũng như chủ DNTN, Chủ hộ kinh doanh cá thể có toàn quyền quyết định mọi hoạt động kinh doanh của hộ, và chịu trách nhiệm cá nhân về các quyết định này. Chủ hộ có thể tự mình quản lý hoặc thuê người quản lý; trường hợp thuê người quản lý thì chủ hộ vẫn phải chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của hộ.
Trong quá trình kinh doanh, Hộ kinh doanh cá thể có thể thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, chuyển địa điểm kinh doanh hay tạm ngưng kinh doanh.
Khi thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh (thay đổi ngành nghề, vốn kinh doanh ...), Hộ kinh doanh cá thể phải thông báo nội dung thay đổi cho cơ quan đăng ký kinh doanh; cơ quan này sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mới sau khi thu hồi Giây chứng nhận cũ.
Nếu chuyển đổi địa điểm kinh doanh sang quận, huyện khác, Hộ kinh doanh phải nộp lại Giây chứng nhận đăng ký kinh doanh cho cơ quan đăng ký kinh doanh đã cấp giấy chứng nhận đó, và tiến hành đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh câp quận, huyện nơi đặt địa điểm mơi.
Trường hợp tạm ngưng kinh doanh từ 30 ngày trở lên, Hộ kinh doanh cá thể phải thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế vụ có thẩm quyền.
Trường hợp chấm dứt hoạt động, Hộ kinh doanh cá thể phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh kèm theo danh sách các khoản nợ còn thiếu, kế hoạch ttả nợ và thanh lý các hợp đồng với người lao động và với người thứ ba. Sau khi hoàn tất các công việc này, Hộ kinh doanh phải thông báo cho cơ quan đãng ký kinh doanh, khi đó cơ quan này sẽ thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và xoá tên Hộ kinh doanh ttong sổ đăng ký kinh doanh.