Mục lục bài viết
- 1. Thể chế, chính sách
- 2. Pháp luật
- 3. Cách thức tổ chức hoạt động của cơ quan điều tra theo các mô hình tố tụng
- 4. Yếu tố con người
- 4.1 Người có thẩm quyền điều tra
- 4.2 Người tham gia tố tụng khác
- 5. Các yếu tố khác
- 5.1 Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
- 5.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động điều tra
- 5.3 Cơ chế xử lý hành vi vi phạm quyền con người của bị can
- 6. Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
- 6.1 Ý nghĩa chính trị
- 6.2 Ý nghĩa xã hội
- 6.3 Ý nghĩa pháp lý
1. Thể chế, chính sách
Đường lối chính trị, chính sách phát triển của một quốc gia là nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến quyền con người nói chung và quyền con người của bị can nói riêng. Chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước giữ vai trò định hướng cho sự hình thành của pháp luật và các mặt kinh tế, xã hội, tổ chức bộ máy của một quốc gia. Nếu quốc gia có chủ trương, chính sách là xây dựng Nhà nước pháp quyền, thiết lập nền dân chủ thực sự và toàn diện vì con người, điều này sẽ định hướng đối với pháp luật cũng như các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, tổ chức bộ máy... bảo đảm cho con người phát triển toàn diện. Ngược lại, nếu quốc gia không xác định đường lối chính trị, chính sách phát triển vì con người thì ảnh hưởng tiêu cực đến việc xây dựng các quy định pháp luật cũng như các điều kiện kinh tế, xã hội khác.
2. Pháp luật
Yếu tố pháp luật là cơ sở, nền tảng cho việc bảo đảm quyền con người. Pháp luật là phương tiện chính thức hoá các giá trị xã hội của quyền con người, các quyền đó sẽ mang tính bắt buộc, được xã hội thừa nhận, bảo vệ. Hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, rõ ràng, đầy đủ bao gồm các nội dung: pháp luật về bảo đảm quyền con người, pháp luật về giám sát thực thi quyền con người, pháp luật về trách nhiệm và xử lý vi phạm quyền con người là nền tảng quan trọng để quyền con người được bảo đảm. Đối với lĩnh vực TTHS, hệ thống pháp luật TTHS với đầy đủ các nội dung như ghi nhận các quyền con người trong TTHS, quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tố tụng trong việc bảo đảm quyền con người, quy định các trình tự, thủ tục tố tụng minh bạch, công khai sẽ tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi để thực thi quyền con người. Bên cạnh đó, pháp luật về giám sát thực thi quyền con người như giám sát của cơ quan quyền lực, giám sát xã hội, công dân được quy định rõ ràng, cụ thể; pháp luật về trách nhiệm và xử lý hành vi vi phạm quyền con người nghiêm minh góp phần hỗ trợ đắc lực cho việc bảo đảm quyền con người trong TTHS nói chung và quyền con người của bị can trong điều tra VAHS nói riêng.
3. Cách thức tổ chức hoạt động của cơ quan điều tra theo các mô hình tố tụng
Trong lĩnh vực TTHS, việc lựa chọn mô hình TTHS cũng ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền con người của bị can bởi mỗi mô hình TTHS có ưu thế và đặc điểm riêng. Tố tụng thẩm vấn cho rằng sự thật có thể và phải tìm ra trong quá trình thẩm vấn điều tra. Vì các bên có thể có ý định che dấu sự thật nên Nhà nước phải tham gia sớm và liên tục vào việc thẩm vấn, điều tra90. Hệ thẩm vấn nhấn mạnh vào giai đoạn thẩm tra của quá trình tố tụng nên việc điều tra cẩn thận sẽ bảo đảm tính chính xác tội trạng thực tế. Tố tụng tranh tụng cho rằng sự thật sẽ được mở ra qua sự tranh luận tự do và cởi mở giữa những người có các dữ kiện chính xác. Hệ thống tranh tụng chú trọng vào giai đoạn xử án với các quy tắc nghiêm ngặt về chứng cứ để tin tưởng rằng bị cáo bị xét xử một cách công bằng.
Điều tra là một giai đoạn trong TTHS nên những đặc trưng của mô hình TTHS cũng thể hiện trong cấu trúc, trình tự điều tra, từ đó hình thành sự khác biệt giữa giai đoạn điều tra trong tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng. Nét nổi bật trong mô hình điều tra thẩm vấn thể hiện ở tính chủ động và tính vận dụng rộng rãi quyền lực Nhà nước trong quá trình điều tra. Nhà nước trao toàn quyền thẩm vấn cho CQĐT, quyền tố tụng của bị can bị hạn chế. Bị can và luật sư chỉ được phép sử dụng kết quả điều tra có sẵn của CQĐT, không được phép độc lập tiến hành điều tra. Trong tố tụng thẩm vấn, giai đoạn điều tra là giai đoạn xung yếu nhất ở khía cạnh quyền con người và bảo đảm quyền con người của nhóm người bị buộc tội. Do đó, bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra có vai trò như một đối trọng để hạn chế sai lầm và vi phạm pháp luật trong giai đoạn điều tra. Trong khi đó, đặc trưng của mô hình tranh tụng là tính đối kháng trong giai đoạn điều tra, tức là tăng cường vai trò và năng lực tố tụng của bị can, nhấn mạnh tính bình đẳng và tính đối kháng giữa bị can và CQĐT. Vì thế, quyền điều tra không chỉ thuộc về CQĐT mà hai bên truy tố và bào chữa đều có quyền điều tra lấy chứng cứ độc lập. Hai hoạt động điều tra này diễn ra đồng thời và hạn định lẫn nhau. Nghiên cứu, so sánh giữa mô hình tố tụng, Timothy Waters cho rằng “Một điều cần phải thừa nhận là, pháp luật TTHS trong các quốc gia theo mô hình tố tụng tranh tụng sẽ coi trọng vấn đề tôn trọng quyền của cá nhân trong mối quan hệ với lợi ích công cộng. Trong khi đó, pháp luật TTHS của các quốc gia theo mô hình thẩm vấn sẽ coi trọng lợi ích công cộng, đề cao sự kiểm soát tội phạm”. Điều này thể hiện một cách rõ nét trong giai đoạn điều tra. So với tố tụng thẩm vấn, các ưu điểm của tố tụng tranh tụng là có những bảo đảm quan trọng trong việc bảo vệ quyền công dân, hạn chế việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng, tạo điều kiện để Tòa án giám sát đối với hoạt động của CQĐT, đảm bảo tính công khai, minh bạch của quá trình tố tụng. Tố tụng tranh tụng dường như chặt chẽ hơn với sự tham gia của tư pháp trong cả quá trình điều tra và xét xử. Qua những phân tích trên đây, chúng tôi nhất trí với ý kiến của một học giả là “Nếu xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền con người thì mô hình tố tụng công bằng và hình thức tố tụng tranh tụng có nhiều ưu điểm hơn. Tuy nhiên nếu xét theo yêu cầu hiệu quả đấu tranh với tội phạm thì mô hình TTHS kiểm soát và hình thức tố tụng hỗn hợp có nhiều ưu điểm hơn”. Do vậy, mô hình tố tụng là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra VAHS.
4. Yếu tố con người
4.1 Người có thẩm quyền điều tra
Có thể nói yếu tố con người có tính quyết định trong việc đảm bảo hiệu quả hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền THTT. Con người- đội ngũ cán bộ trong các cơ quan tư pháp- đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động nói chung, trong việc bảo vệ quyền con người nói riêng, vì suy cho đến cùng tất cả pháp luật, cơ chế, biện pháp đều là sản phẩm của con người. Hiệu quả của hoạt động bảo đảm quyền con người trong TTHS nói chung và bị can trong giai đoạn điều tra nói riêng phụ thuộc vào các yếu tố như số lượng, chất lượng và đạo đức nghề nghiệp của người có thẩm quyền THTT. Sự thiếu hụt về số lượng người có thẩm quyền THTT sẽ dẫn đến các cán bộ phải đảm nhận một khối lượng công việc quá lớn so với khả năng của mình, tình trạng quá tải, khả năng xảy ra sai sót tăng. Bên cạnh đó, chất lượng của người có thẩm quyền THTT là yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của họ. Chất lượng của người có thẩm quyền THTT trước hết được đánh giá qua trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ non kém sẽ có thể dẫn đến những sai sót nghiêm trọng trong việc xử lý VAHS, xâm phạm đến quyền con người. Đặc biệt ý thức bảo vệ quyền con người của người có thẩm quyền THTT có vai trò quan trọng, là cơ sở để các hoạt động thực thi pháp luật của họ đáp ứng mục tiêu bảo đảm quyền con người. Trách nhiệm và lương tâm của người có thẩm quyền THTT cũng là yếu tố quyết định chất lượng công việc. Giữ gìn được tư cách đạo đức trong sạch, lương tâm nghề nghiệp, vượt qua được những cám dỗ về vật chất các cán bộ tư pháp có thể hoàn thành tốt công việc của mình, một mặt xử lý nghiêm minh VAHS, mặt khác bảo đảm quyền con người.
4.2 Người tham gia tố tụng khác
Người tham gia tố tụng có vai trò nhất định việc bảo đảm quyền con người của bị can, đặc biệt là người bào chữa, người đại diện của bị can chưa thành niên, người phiên dịch. Người bào chữa có chức năng là bảo vệ các quyền cơ bản của người bị buộc tội và thực hiện công bằng xã hội. Sự tham gia của người bào chữa trong TTHS thúc đẩy công tác điều tra xét xử được đầy đủ và khách quan hơn. Trình độ chuyên môn, khả năng tranh tụng, hoạt động tích cực của người bào chữa ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của bị can. Bên cạnh đó, hoạt động của những người tham gia tố tụng khác như người đại diện của bị can, người phiên dịch cũng có ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền con người của bị can. Đối với người đại diện của bị can dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về thể chất tâm thần, sự tham gia tố tụng và quyết định của họ tác động trực tiếp đến quyền lợi của bị can. Đối với người phiên dịch nếu họ dịch đúng, đầy đủ ý kiến của bị can, quyền lợi của bị can được bảo đảm. Những sai sót, nhầm lẫn trong quá trình phiên dịch ít nhiều ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền con người của bị can, đặc biệt là quyền tự bào chữa.
5. Các yếu tố khác
5.1 Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
Đảm bảo quyền con người trong TTHS có mối quan hệ mật thiết với trình độ nhận thức và ý thức pháp luật của con người. Một trong những nguyên nhân dẫn đến những vi phạm về quyền con người có thể xảy ra đó là trình độ nhận thức pháp luật của một bộ phận nhân dân chưa được đầy đủ, ý thức pháp luật chưa cao. Họ không nắm được các quy định pháp luật về quyền của mình, thậm chí không biết mình bị vi phạm quyền con người. Do đó, bị can và người đại diện hợp pháp, người bào chữa phải hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào tiến trình TTHS. Chỉ trên cơ sở hiểu rõ mình có quyền con người như thế nào họ mới có thể bảo vệ được quyền lợi của mình. Vì vậy, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật để người tham gia tố tụng có khả năng tự bảo vệ mình và đánh giá tính hợp pháp trong hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền tố tụng là một việc quan trọng và cấp thiết. Hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật cần hướng đến nhiều loại đối tượng khác nhau và tiến hành qua nhiều hình thức phong phú sinh động như tổ chức các buổi tuyên truyền, phổ biến các bộ luật, hội thảo, tọa đàm, tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tờ rơi, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu kiến thức pháp luật. Việc tuyên truyền pháp luật trong nhân dân phải được tiến hành một cách toàn diện, không chỉ là việc phổ biến những văn bản pháp luật và kiến thức pháp luật về mặt lý thuyết mà còn phải tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử. Công bố các bản án có tính chất điển hình, công khai, đặc biệt là các vụ án xét xử các hành vi vi phạm quyền con người, tăng cường xét xử lưu động là những hình thức tuyên truyền pháp luật đạt hiệu quả cao.
5.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động điều tra
Quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra VAHS có được bảo đảm hay không còn phụ thuộc một phần không nhỏ vào cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động điều tra. Trong hoạt động điều tra, cơ quan có thẩm quyền thường xuyên áp dụng các biện pháp kỹ thuật hình sự, sử dụng phương tiện kỹ thuật hình sự để tìm kiếm thông tin, chứng cứ. Đối với một số hoạt động điều tra, số lượng và chất lượng thông tin thu thập được một phần phụ thuộc vào sự hiện đại của phương tiện kỹ thuật hình sự. BLTTHS năm 2015 với quy định mới về biện pháp điều tra đặc biệt và việc bắt buộc phải ghi âm, ghi hình có âm thanh các buổi hỏi cung bị can đòi hỏi phải trang bị đầy đủ các phương tiện kỹ thuật, cơ sở vật chất phù hợp. Do đó, nâng cấp, trang bị cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật hiện đại sẽ giúp hoạt động điều tra diễn ra nhanh chóng, hiệu quả hơn, đồng thời hạn chế được khả năng xâm hại đến các quyền con người của bị can.
5.3 Cơ chế xử lý hành vi vi phạm quyền con người của bị can
Cơ chế xử lý hành vi vi phạm quyền con người là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra VAHS. Về nguyên tắc, hành vi vi phạm quyền con người bị xử lý một cách thích đáng, kịp thời mới có tác dụng răn đe những người khác không thực hiện hành vi tương tự. Đồng thời, nó giúp người bị xâm phạm tin tưởng vào sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật. Do vậy, việc hình thành và vận hành cơ chế xử lý hành vi vi phạm quyền con người có vai trò quyết định hiệu quả của bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra VAHS. Cơ chế xử lý hành vi vi phạm quyền con người là hệ thống các biện pháp, cách thức nhằm mục đích xử lý hành vi vi phạm quyền con người. Cơ chế xử lý hành vi vi phạm quyền con người trong các quốc gia cũng rất khác nhau. Có quốc gia thành lập cơ quan chuyên trách về nhân quyền với một trong nhiệm vụ là điều tra các khiếu nại, tố cáo về vi phạm nhân quyền, có quốc gia không thành lập cơ quan này mà xử lý các vi phạm nhân quyền thông qua các cơ quan Nhà nước, cơ quan tư pháp. Nhìn chung, mặc dù mỗi quốc gia quy định cơ quan khác nhau xử lý hành vi vi phạm quyền con người song các hình thức cơ bản là xử lý hành chính, xử lý hình sự, bồi thường. Trong đó, xử lý hình sự truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi xâm phạm quyền con người của bị can là hình thức xử lý có tính nghiêm khắc và răn đe cao nhất. Hình thức này thích hợp với những hành vi vi phạm quyền con người nghiêm trọng gây thiệt hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của bị can như bức cung, dùng nhục hình. Đối với các hành vi vi phạm ở mức độ nhẹ hơn, có thể xem xét xử lý hành chính, bồi thường. Mức độ và hình thức xử lý hành vi vi phạm quyền con người của bị can phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh, chính sách hình sự của mỗi quốc gia nhưng phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm quyền con người của bị can đã gây ra, mang tính giáo dục nhưng cũng đồng thời mang tính răn đe. Có như vậy, quyền con người của bị can mới được bảo đảm một cách thực sự.
6. Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
6.1 Ý nghĩa chính trị
Bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra VAHS có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị. Bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra VAHS là thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN đòi hỏi phải tiến hành cải cách tư pháp và vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong TTHS được Đảng ta đặc biệt quan tâm. Bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra VAHS đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải bảo đảm tôn trọng pháp luật, tạo được ý thức coi trọng pháp luật trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước, chống lại sự tùy tiện, lạm quyền của người có chức, có quyền. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải xác định đúng đắn trách nhiệm qua lại giữa nhà nước và công dân. Việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được coi là yêu cầu trung tâm của nội dung về Nhà nước pháp quyền. Bảo đảm quyền con người nói chung và bảo đảm quyền con người của bị can nói riêng không chỉ là nội dung mà còn là mục tiêu cao nhất khi xây dựng nhà nước pháp quyền.
Bảo đảm quyền con người của bị can thể hiện sự an toàn pháp lý của công dân trong mối quan hệ với nhà nước và xác lập nghĩa vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải bảo đảm quyền con người của bị can trong TTHS. Nó tạo điều kiện cho bị can bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời giúp họ nhận thức được rõ trách nhiệm để có thái độ hợp tác tích cực với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình.
6.2 Ý nghĩa xã hội
Bảo đảm quyền con người của bị can là thực hiện sự công bằng, dân chủ trong TTHS. Bị can trước hết là con người nên phải được hưởng quyền con người cơ bản như những người khác trong xã hội. Việc bảo đảm quyền con người của bị can sẽ tạo ra sự công bằng, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bị can với nhau, giữa bị can với người tham gia tố tụng khác - đó là biểu hiện của công bằng trong TTHS. Đồng thời, việc bảo đảm quyền con người của bị can là nền tảng, cơ sở cho sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội trong TTHS. Trong khi đó, TTHS là một lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Nhà nước, bảo đảm công bằng, bình đẳng trong TTHS góp phần tích cực vào việc bảo đảm công bằng trong xã hội.
Bảo đảm các quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra củng cố lòng tin của người dân vào CQTHTT. Bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra là là điều kiện hạn chế sự lạm quyền và vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng. Từ đó, hoạt động này có tác dụng củng cố lòng tin của người dân vào tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm uy tín của các cơ quan có thẩm quyền THTT. Nhìn ở góc độ người bị buộc tội, nếu quyền con người họ bị vi phạm khi họ tham gia vào TTHS sẽ hình thành tâm lý bất bình thậm chí chống đối của người phạm tội, gây ra sự bất an trong xã hội. Do đó, bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra còn góp phần ổn định trật tự xã hội.
6.3 Ý nghĩa pháp lý
Bảo đảm quyền con người của bị can nói riêng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung là nhiệm vụ, mục tiêu của TTHS. Bản chất hoạt động TTHS là hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước mà trong đó luôn có sự xung đột của hai nhóm lợi ích- lợi ích công và lợi ích cá nhân. Lợi ích công thể hiện ở nhiệm vụ của TTHS là phát hiện chính xác và xử lý nghiêm minh đối với người phạm tộicòn lợi ích cá nhân thể hiện ở nhiệm vụ của TTHS là phải bảo đảm cho các quyền cơ bản của công dân không bị hạn chế trái pháp luật. TTHS trong bất cứ Nhà nước nào cũng phải giải quyết mâu thuẫn giữa hai nhóm lợi ích này. Để giải quyết đúng đắn quan hệ pháp lý giữa lợi ích công và lợi ích riêng, ngày nay, TTHS của các quốc gia nào bên cạnh nhiệm vụ phát hiện, xử lý tội phạm cũng đặt ra nhiệm vụ bảo đảm quyền con người.
Bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra là góp phần hạn chế sai lầm và vi phạm pháp luật trong hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền THTT, nâng cao tính nghiêm minh của pháp luật. Khi các cơ quan có thẩm quyền THTT, người THTT tôn trọng và tạo điều kiện để bị can thực hiện quyền con người của mình thì hoạt động điều tra đúng pháp luật, tránh được oan sai. Khi quyền con người bị can bị vi phạm đó có thể là căn cứ để những người tiến hành và tham gia tố tụng phản đối quyết định tố tụng dưới các hình thức khác nhau hoặc đưa ra các yêu cầu, đòi hỏi của mình như yêu cầu giám định, yêu cầu điều tra, yêu cầu điều tra bổ sung, điều tra lại... Thông qua các cơ chế này, cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng sẽ kịp thời sửa chữa sai lầm, vi phạm pháp luật của mình, có thái độ thận trọng và trách nhiệm hơn khi tiếp tục tiến hành xử lý vụ án.
Bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra VAHS là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự dân chủ, văn minh của hệ thống TTHS của một quốc gia. Trong bất cứ mô hình TTHS nào, giai đoạn điều tra là giai đoạn xung yếu nhất xét ở khía cạnh quyền con người. Trong giai đoạn này, tính công khai, tranh luận còn thấp, khả năng và nhu cầu áp dụng các biện pháp cưỡng chế cao nên có nguy cơ xâm hại quyền con người, đặc biệt là quyền con người của bị can. Vì vậy, nếu quyền con người của bị can được bảo đảm tạo ra một môi trường an toàn về mặt pháp lý, sự bình đẳng dân chủ trong giai đoạn điều tra. Bảo đảm dân chủ, bình đẳng trong giai đoạn điều tra là tiêu chí không thể thiếu của một hệ thống TTHS dân chủ, văn minh.
Đối với các CQTHTT, bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra VAHS có ý nghĩa định hướng và chỉ đạo trong điều tra VAHS. Đây là giai đoạn mà quyền con người dễ bị xâm hại từ phía các CQTHTT, người THTT. Vì vậy, việc nắm rõ bản chất, ý nghĩa của bảo đảm quyền con người của bị can sẽ giúp những người thực thi pháp luật tránh được những sai sót, vi phạm quyền con người.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê