1. Chiến thuật khám xét người trong khoa học điều tra tội phạm

Khám xét hoặc điều tra là các bước làm theo quy trình để tìm ra các bằng chứng

1.1 Thẩm quyền ra lệnh khám xét:

Về thẩm quyền ra lệnh khám xét trong các trường hợp ( bình thường và không thể trì hoãn) được quy định chặt chẽ và cụ thể trong Điều 193 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015.

“ 1. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.

2. Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án.”

Vì vậy, trong mọi trường hợp, việc khám xét chỉ được tiến hành khi có lệnh của những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, “có thể tiến hành khám người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người những đồ vật, tài liệu cần thu giữ” (khoản 3 Điều 194 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015). Đó là những trường hợp ngoại lệ.

1.2 Điều kiện khám xét

Hoạt động khám xét phải bảo đảm yêu cầu về nghiệp vụ là bí mật, bất ngờ. Đây là nhân tố cơ bản để hoạt động khám xét đạt được mục đích của mình. Khi yêu cầu này được thực hiện nghiêm chỉnh, thủ phạm sẽ không có điều kiện để che dấu, tiêu hủy chứng cứ hoặc chạy trốn. Để đạt được yêu cầu trên, cơ quan điều tra phải giữ bí mật chủ trương, kế hoạch khám xét, việc chuẩn bị, triển khai lực lượng bao vây, giám sát tạo được yếu tố bất ngờ khi xuất hiện ở nơi cần khám xét.

Ngoài ra, trong quá trình khám xét, cơ quan điều tra không được để lộ bí mật những phương tiện và biện pháp nghiệp vụ dã được áp dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm trước mắt cũng như lâu dài.

Khám xét người là biện pháp điều tra thu thập chứng cứ cần thiết và quan trọng trong việc chứng minh vụ án hình sự, tuy nhiên nó động chạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể được quy định trong Hiến pháp nên chỉ được khám xét khi có đầy đủ những căn cứ do pháp luật quy định.

Trước khi tiến hành khám xét người, điều tra viên phải nghiên cứu kĩ hồ sơ vụ án, nhân thân người cần khám, chuẩn bị những phương tiện khám xét cần thiết, định thời gian, địa điểm khám, mời người chứng kiến cùng giới với người cần khám và lập kế hoạch khám xét.

Việc khám xét người chỉ được tiến hành khi có căn cứ nhận định trong người của đối tượng bị khám xét có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có được hoặc đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.

1.3 Đối tượng bị khám xét

Khám người là việc lục soát, tìm tòi trong người, quần áo đang mặc và các đồ vật đem theo cảu bị can, bị cao, người bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc người có mặt ở nơi khám xét để tìm và thu giữ chứng cứ phạm tội trên thân thể người đó. Không phải ai cũng là đối tượng bị áp dụng biện pháp khám xét.

Đối tượng bị áp dụng biện pháp khám xét có thể là bị can, bị cáo. Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang hoặc những người mà cơ quan THTT có tài liệu, chứng cứ cho rằng trên người họ có mang công cụ, phương tiện phạm tội hoặc vật do phạm pháp mà có hoặc những đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

1.4 Trình tự khám xét

Việc khám xét người thường được tiến hành theo hai bước: khám xét sơ bộ và khám xét chi tiết.

+ Khám xét sơ bộ được tiến hành ngay khi bắt giữ đối tượng nhằm mục đích tước vũ khí, chất độc và thu giữ vật chứng dễ tìm. Khi khám xét đối tượng bị bắt, cần kiểm tra ở khu vực xung quanh, đề phòng đối tượng tẩu tán vũ khí, đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án ra những nơi đó. Chỉ khi nào có căn cứ để khẳng định chắc chắn rằng người bị bắt đã bị tước hết vũ khí, chất độc mới gải về nơi giam giữ.

+ Khám xét chi tiết phải được tiến hành ở nơi kín đáo như trụ sở cơ quan điều tra, một căn phòng, một ngôi nhà nào đó và không để những người không có trách nhiệm có mặt tại nơi này nhằm bảo đảm an toàn cho cuộc khám xét, danh dự, nhân phẩm cho người bị khám xét

Việc khám xét phải tuân theo những trình tự, thủ tục của Điều 194 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 đã quy định:

“Điều 194. Khám xét người

1. Khi bắt đầu khám xét người, người thi hành lệnh khám xét phải đọc lệnh và đưa cho người bị khám xét đọc lệnh đó; giải thích cho người bị khám xét và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ.

Người tiến hành khám xét phải yêu cầu người bị khám xét đưa ra các tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án, nếu họ từ chối hoặc đưa ra không đầy đủ các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì tiến hành khám xét.

3. Có thể tiến hành khám xét người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.”

Như vậy, trước hết khi muốn khám người phải có lệnh, trừ trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người đồ vật cần thu giữ. Khi tiến hành khám xét, phải đọc lệnh khám và đưa cho đương sự đọc lệnh khám đó: giải thích cho đương sự và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ. Trước khi tiến hành khám người, người thi hành lệnh khám yêu cầu người bị khám đưa ra nhữn đồ vật, tài liệu có lien quan đến vụ án có ở trong người. Nếu người bị khám đưa ra hết đồ vật, tài liệu tỏng người mà cơ quan điều tra thấy đủ thì không cần pải khám nữa. Nếu người bị khám từ chối đưa ra thì tiến hành khám người họ.

Tuy nhiên, thực hiện quy định này có thể gây khó khăn cho lực lượng khám xét. Thực tiễn cho thấy, không nên đưa lệnh khám xét cho đương sự đọc lệnh khám xét. Bởi vì, tình hình tại khu vực khám xét khi tiến hành khám xét rất phức tạp, nếu đưa cho đối tượng đọc lệnh khám xét thì có trường hợp Điều tra viên gặp phải sự chống đối của đối tượng, thân nhân của đối tượng dẫn đến hành vi xé, đốt lệnh khám xét. Do đó, trong điều luật chỉ cần quy định Điều tra viên phải đọc lệnh khám xét là đủ.

Mặt khác, cũng tại điều luật này quy định: “Người tiến hành khám phải yêu cầu đương sự đưa ra những đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, nếu đương sự từ chối thì tiến hành khám”. Trong thực tiễn hoạt động khám xét cho thấy, khi Điều tra viên đã có lệnh khám xét thì bất kỳ trường hợp nào cũng tiến hành khám xét, việc đương sự đồng ý đưa ra những đồ vật tài liệu liên quan đến vụ án không đồng nghĩa với việc hủy bỏ cuộc khám xét. Bởi vì, có nhiều trường hợp, đối tượng đưa ra những đồ vật, tài liệu cho Điều tra viên nhưng chưa đầy đủ hoặc nhằm mục đích che giấu một hành vi phạm tội khác có thể nghiêm trọng hơn, cất giấu những vật chứng khác...

1.5 Cách thức khám xét

Khi tiến hành hoạt động khám xét, tùy trong từy trường hợp cụ thể mà bố trí tiến hành hoạt động khám xét cho phù hợp. Thông thường, khi tiến hành khám xét một đôi tượng thì một người trực tiếp khám xét và một người bảo vệ. Khi cần khám xét nhiều đối tượng thì số lượng cán bộ trực tiếp khám xét và bảo vệ cuộc khám xét cần ở mức độ đủ để hoạt động khám xét được tiến hành nhanh chống và hiệu quả. Khi khám xét đối tượng nguy hiểm cần có những biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt, đề phòng đối tượng chạy trốn, hành hung, tấn công lại cán bộ khám xét.

Khám người được tiến hành theo trình tự từ trên xuống dưới, từ trước ra sau. Khi khám xét phải được yêu cầu đối tương đứng im, không được động đậy, hông được bỏ tay vào túi quần, để mọi đồ vật, tài liệu có ở trong người lên mặt bàn.

Có thể yêu cầu đối tượng cới hết quần, áo đang mặc, giày, dép để đưa cho cán bộ khám xét. Trong trường hợp này, cần đưa cho họ một bộ quần áo khác hoặc một mảnh vải để che người. Cần khám kỹ ở những nơi có hai lần vải hoặc dưới đế giày, dép, đề phòng trường hợp đối tượng sư dụng những nơi đó làm nơi cất giấu những đồ vật, tài liệu có kích thước nhỏ như tiền, vàng, chất độc, giấy tờ, tài liệu…

Khi đối tượng đã cới hết quần áo thì bắt đầu khám thân thể của họ. Cần khám kỹ ở những nơi kín đáo trên cơ thể, trong các lỗ tự nhiên.

Đối với những đồ vật mang theo người như va ly, ví, cặp, hòm,… và những phương tiện đi lại cần được khám xét tỷ mỉ. Chú ý cả trong và ngoài, đề phòng trường hợp đối tượng sử dụng va ly, hòm hai đáy; cặp, túi hai thành…

Khi khám xét người phải tôn trọng và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, tài sản của người bị khám. Không được có hành vi trái pháp luật, đạo đức khi khám xét.

Khi tiến hành khám xét phải tuân thủ những quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục khám xét các đối tượng cụ thể được quy định tại Điều 194 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015.

Trong quá trình khám xét, “việc khám xét người phải do người cùng giới thực hiện và có người khác cùng giới chứng kiến. Việc khám xét không được xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị khám xét”. (khoản 2 Điều 194 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015).

1.6 Kết thúc khám xét

Khi kết thúc khám xét, trong mọi trường hợp đều phải lập biên bản. Biên bản khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu,... là một văn bản tố tụng, phản ánh toàn bộ diễn biến và kết quả của cuộc khám xét, được lập theo đúng quy định tại các Điều 133 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015.

Trong biên bản khám xét phải ghi rõ địa điểm, ngày, giờ tháng, năm tiến hành khám xét; thời gian bắt đầu và kết thúc cuộc khám xét; những đồ vật, tài liệu,… đã phát hiện và thu giữ, địa điểm và thủ đoạn cất giấu chúng; những tình tiết phức tạp xảy ra trong qua trình khám xét, thái độ của đương sự và những người có mặt tại khu vưc khám xét, hững yêu cầu và đề nghị của đương sự… Không được ghi nhận xét chủ quân của điều tra viên vào biên bản. Đối với những đồ vật, tài liệu thu làm mẫu so sánh cũng cần mô tả chính xác đặc điểm của nó vào biên bản, đề phòng trường hợp đương sự phủ nhận sự liên quan của mình đối với các đồ vật, tài liệu đó. Biên bản khám xét phải được lập tại nơi tiến hành khám xét và phải được đọc cho mọi người tham gia việc khám xét, người bị khám xét, người chứng kiến, cùng ký tên xác nhận và phải giao cho người bị khám xét một bản.

Trong trường hợp thu giữ nhiều vật chứng và tài liệu có liên quan đến vụ án thì có thẻ lập bản thống kê kèm theo. Việc lập, thông qua, ký xác nhận bản thống kê theo đúng quy định của pháp luật.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Trẻ em phạm tội dưới 16 tuổi thì phải xử lý như thế nào ? Xử lý hành vi xâm phạm quyền trẻ em ?

2. Thời hạn điều tra vụ án hình sự là bao lâu ?

Xin chào Luật sư! Luật sư cho em hỏi: Em là người bị hại. Bị can bị truy tố về tội cố ý gây thương tích. Hiện nay, Cơ quan công an đã lấy bệnh án của em ở bệnh viện rồi thì trong thời gian bao lâu thì em đươc đi trưng cầu giám định thương tích ạ ?
Em xin cám ơn!
Người gửi: S.N

Trả lời:

Căn cứ Điều 205 Bộ luật tố tung hình sự năm 2015 Trưng cầu giám định

Điều 205. Trưng cầu giám định

1. Khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 206 của Bộ luật này hoặc khi xét thấy cần thiết thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định.

2. Quyết định trưng cầu giám định có các nội dung:

a) Tên cơ quan trưng cầu giám định; họ tên người có thẩm quyền trưng cầu giám định;

b) Tên tổ chức; họ tên người được trưng cầu giám định;

c) Tên và đặc điểm của đối tượng cần giám định;

d) Tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có);

đ) Nội dung yêu cầu giám định;

e) Ngày, tháng, năm trưng cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định.

3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định trưng cầu giám định, cơ quan trưng cầu giám định phải giao hoặc gửi quyết định trưng cầu giám định, hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định cho tổ chức, cá nhân thực hiện giám định; gửi quyết định trưng cầu giám định cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.

Theo đó, đối với Tội cố ý gây thương tích việc giám định phải được tiến hành ở giai đoạnh Điều tra nhằm thu thập thông tin để tiến hành khởi tố bị can đúng tội, đúng khung hình phạt.

Căn cứ khoản 2 Điều 36 BLTTHS 2015: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra

2. Khi tiến hành tố tụng hình sự, Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố, không khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án; quyết định khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can; quyết định nhập hoặc tách vụ án; quyết định ủy thác điều tra;

b) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định của Bộ luật này;

c) Quyết định truy nã, đình nã bị can, khám xét, thu giữ, tạm giữ, xử lý vật chứng;

d) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, khai quật tử thi, thực nghiệm điều tra, thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định. Yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản.

đ) Trực tiếp kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm và tiến hành các biện pháp điều tra;

e) Kết luận điều tra vụ án;

g) Quyết định tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, phục hồi điều tra vụ án, bị can;

h) Ra các lệnh, quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra.

Như vậy, trong trường hợp của ban, Thủ trưởng hoặc Phó thử trưởng Cơ quan Điều tra sẽ ra quyết định trưng cầu giám định trong giai đoạn Điều tra. Tức trong thời hạn Điều tra bạn sẽ được giám định thương tích. Thời hạn này được quy định như sau:

Điều 172. Thời hạn điều tra

1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

3. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

4. Trường hợp thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, nhập vụ án thì tổng thời hạn điều tra không vượt quá thời hạn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.

5. Thẩm quyền gia hạn điều tra của Viện kiểm sát:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn điều tra lần thứ ba.

6. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra thì việc gia hạn điều tra thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.

Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần nữa không quá bốn tháng.

Tuy nhiên, đối với Tội cố ý gây thương tích để có thể khởi tố bị can cũng như Hoàn tất việc điều tra thì cần phải có kết quả giám định thương tích của người bị hại. Vì vậy, việc giám định thường được tiến hành rất sớm ( ngay sau khi khởi tố vụ án và điều kiện của người bị hại có phép có thể giám định) Cơ quan điều tra sẽ tiến hành ra quyết định yêu cầu giám định.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Mang dao phòng thân có được pháp luật cho phép không ? Dùng dao đâm người khác phạm tội gì ?

3. Quy trình điều tra vụ án hình sự và quyền của người bị hại ?

Thưa luật sư! Em bị mất xe máy serius ngày 17. Sau 15p phát hiện đã khai báo hồ sơ cho công an phường để lập hồ sơ (đã ghi đầy đủ thông tin liên hệ). Sau 2 ngày , công an đã dẫn đối tượng ăn cắp tới nhà và ghi số nhà. Lúc đó có hỏi thì công an Phường kêu đã bắt được đối tượng và khai báo rằng đã ăn cắp xe tại số nhà của em.

Em ra hỏi công an phường thì kêu chờ công an thành phố giải quyết. Sau 10 ngày chưa có thông tin gì thì lên hỏi công an thành phố thì kêu hỏi công an phường ai là người thụ lý hồ sơ. Xuống hỏi lại công an phường thì kêu tất cả hồ sơ mất xe đều đưa lên công an thành phố giải quyết.

Em có hỏi:

1/ Em phải làm gì để biết được thông tin về xe của em đã được thu giữ hay chưa?

2/ Trình tự xét xử về hồ sơ này như thế nào? Người bị mất có quyền được biết thông tin gì? Có quyền hỏi tại cơ quan nào?

Em xin trân thành cảm ơn .

Luật sư tư vấn:

Về việc thu thập vật chứng

Chiếc xe của bạn được xác định là vật chứng, có thể di chuyển, sẽ được thu thập và bảo quản theo quy định tại điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như sau:

Điều 105. Thu thập vật chứng

Vật chứng phải được thu thập kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh, có thể ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án. Vật chứng phải được niêm phong, bảo quản theo quy định của pháp luật.

Như vậy, bạn có thể liên hệ với cơ quan công an nơi đang thụ lý hồ sơ vụ án để biết thông tin về chiếc xe

Về trình tự giải quyết vụ án hình sự:

Vụ án hình sự sẽ được giải quyết theo từng giai đoạn từ điều tra, khởi tố và xét xử. Theo đó, giai đoạn này cần đảm bảo về thời hạn điều tra quy định tại điều 172 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như sau:

Điều 172. Thời hạn điều tra

1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

3. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

4. Trường hợp thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, nhập vụ án thì tổng thời hạn điều tra không vượt quá thời hạn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.

5. Thẩm quyền gia hạn điều tra của Viện kiểm sát:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn điều tra lần thứ ba.

6. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra thì việc gia hạn điều tra thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.

Về quyền được biết thông tin

Bạn được xác định là người bị hại trong vụ án này có các quyền quy định tại khoản 2 Điều 51 như sau:

Điều 62. Bị hại

1. Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.

2. Bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền:

a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;

b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

c) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

d) Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;

đ) Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;

e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

g) Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;

h) Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;

i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;

k) Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này;

l) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;

m) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;

n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

o) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.

4. Bị hại có nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải;

b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

5. Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định tại Điều này.

Cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều này.

Như vậy, bạn sẽ được thông báo về kết quả điều tra từ cơ quan đang thụ lý vụ án này.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Khái niệm về hung khí nguy hiểm và đối tượng bị hại ?

4. Bồi thường thiệt hại do vượt quá phòng vệ chính đáng ?

Chào luật sư, tôi có một vấn đề cần tư vấn như sau: Mấy đêm trước, anh A có lén vào nhà tôi để trộm một chiếc TV ( trị giá 20 triệu đồng) và một chiếc điện thoại di động ( trị giá 5 triệu đồng), nhưng bị tôi phát hiện A đã dơ dao ra đe dọa tôi trong lúc hoảng loạn tôi đã vớ được chiếc gậy sắt gần đó đánh vào đầu A làm cho A chấn thương sọ não, hiện nay đã tỉnh và đang phục hồi.
Tôi muốn hỏi tôi có phải bồi thường cho A trong khi A là người có lỗi không và tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự không ?
Xin cảm ơn luật sư.

Trả lời:

Trước hết, thay mặt bộ phận tư vấn pháp luật công ty luật Minh Khuê cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

1. Vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vượt quá phòng vệ chính đáng trong dân sự

* Thế nào là hành vi phòng vệ chính đáng và vượt quá phòng vệ chính đáng

Theo tinh thần của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Còn " vướt quá phòng vệ chính đáng" là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Như vậy có thể hiểu rằng chỉ được coi là phòng vệ chính đáng khi thỏa mãn các điều kiện sau:

- Nhằm bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

- Thiệt hại xảy ra phải là thiệt hại do chính người có hành vi xâm phạm đến các lợi ích nói trê.

- Hành vi đó phải là cần thiết và tương xứng với hành vi của người gây thiệt hại.

Việc xác nhận một hành vi có phải là vượt quá phòng vệ chính đáng hay không thì phải xem xét nhiều tình tiết khác nhau vì khoảng cách giữa phòng vệ chính đáng và vượt quá phòng vệ chính đáng là rất mong manh.

* Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về vấn đề bồi thường thiệt hại theo do vượt quá phòng vệ chính đáng như sau:

Điều 594. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

Trong quan hệ dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là sự kiện phát sinh giữa các chủ thể không trong quan hệ hợp đồng hay có trong quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của họ thuộc về nghĩa vụ của hợp đồng đã cam kết.

Theo quy định tại điều 594 Bộ luật Dân sự 2015 thì người gây ra thiệt hai do vượt quá phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại với nguyên tắc thiệt hại bao nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu.

Xét trong trường hợp của anh, thì mặc dù anh A có lỗi khi thực hiện hành vi đột nhập và trộm cắp tài sản thuộc sở hữu của anh, những trong tình huống đó hành vi lấy gậy sắt đập vào đầu của anh A làm cho anh A chấn thương sọ não đã vượt quá mức nguy hiểm hành vi đe dọa mà anh A tác động tới anh. Nên có thể nói trong trường hợp này, hành vi của anh được coi là vượt quá phòng vệ chính đáng và phải bồi thường thiệt hại

Mức bồi thường thiệt hại tuân theo nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xác định trong trường hợp sức khỏe bị xâm phạm quy định tại điều 590 Bộ luật dân sự 2015. Theo đó, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
- Thiệt hại khác do luật quy định.

Ngoài các chi phí kể trên thì người bồi thường phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu.

Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thân do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đã cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá 15 lần mức lương cơ sở hiện hành.

2. Hành vi vượt quá phòng vệ chính đáng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không ?

Luật hình sự có quy định về " Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội" ( Điều 136)

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

3. Phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

Do anh không cho biết anh A có tổn thương cơ thể là bao nhiêu nên không thể biết được anh có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Nếu cơ quan điều tra xác định anh đủ dấu hiệu cấu thành tội hay không thì anh có thể bị khởi tố và đưa ra xét xử căn cứ vào tình tiết cụ thể.

5. Mức bồi thường vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết ?

Thưa luật sư, xin tư vấn cho t một số vấn đề như sau: Tình thế cấp thiết và vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết là gì ? Các điều kiện phát sinh ? Trong trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường như thế nào ?
Tôi xin cám ơn !

Luật sư tư vấn:

Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết (Điều 595 Bộ luật dân sự năm 2015)

Điều 595. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

1. Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại.

2. Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

Từ quy định trên, có thể hiểu một cách cụ thể như sau:

Thứ nhất, khái niệm tình thế cấp thiết và vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Có thể dễ dàng nhận thấy nếu như trong trường hợp phòng vệ thì chỉ có sự tham gia của 2 bên là bên tấn công và bên phòng vệ thì trong trường hợp này có có thể sự tham gia của 3 bên khác nhau bao gồm bên gây ra tình thế cấp thiết, bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại.

Thứ hai, các điều kiện phát sinh

- Có thiệt xảy ra trên thực tế: tài sản, tính mạng, sức khoẻ.

- Có hành vi trái pháp luật: hành vi gây ra thiệt hại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết: hành vi này thể hiện thông qua khả năng lựa chọn của nguời gây thiệt hại. Nếu việc gây thiệt hại là không thể trách khỏi thì trách nhiệm bồi thường không phát sinh.

- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết với thiệt hại thực tế xảy ra.

- Lỗi: cố ý hoặc vô ý nhưng đa phần các trường hợp là lỗi vô ý.

Thứ ba, nội dung

Trong trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại.

Và như vậy bên gây ra tình thế cấp thiết sẽ phải bồi thường phần thiệt hại do hành vi của mình gây ra. Nói cách khác đây là trường hợp đặc biệt của việc bồi thường khi nhiều người cùng có lỗi hoặc là trường hợp bồi thường thiệt hại khi người bị thiệt hại cũng có lỗi nếu chính anh ta là người gây ra tình thế cấp thiết nghĩa là anh ta tự đặt mình vào trong tình huống có khả năng gây hại cho chính mình.

Lưu ý:

1. Hành vi này phải là sự đánh giá sai lầm dẩn đến vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết.

2. Trường hợp bồi thường thiệt hại khi người bị thiệt hại cũng có lỗi nếu chính anh ta là người gây ra tình thế cấp thiết nghĩa là anh ta tự đặt mình vào trong tình huống có khả năng gây hại cho chính mình. Ví dụ như Luật giao thông quy định chủ phương tiện phải làm chủ phương tiện trong mọi trường hợp (thuyền trưởng, phi công… không bao giờ rời bỏ máy bay, tàu… (thường thấy trên phim là người ta gặp phải những pha tai nạn nguy hiểm)

>> Xem thêm: Chi phí giám định thương tật do ai chi trả ? Xác định tỷ lệ thương tật và trách nhiệm hình sự ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quy định về người mất năng lực hành vi dân sự? Người bị tâm thần đánh người thì có bị xử phạt hay không?