Sự phân biệt giữa pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu với chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:

Theo nguyên nghĩa, chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (hay chính sách thuế quan) của một quốc gia là kế hoạch, đường hướng chính trị của đảng cầm quyền và nhà nước quản lí, về sự phát triển kinh tế - xã hội trong một thời kì hay giai đoạn nhất định thông qua việc sử dụng công cụ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (thuế quan). Xét về bản chất, chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu luôn phản ánh quan điểm chính trị của đảng cầm quyền trong một giai đoạn nhất định và bao giờ cũng được thể chế hoá bằng các quy phạm pháp luật của Nhà nước để dễ dàng thực hiện trong thực tế. Vì vậy, trong danh từ “chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu” đã bao hàm đầy đủ nội dung các quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và điều đó thể hiện sự thống nhất nội tại giữa chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu với pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Tuy nhiên, sự thống nhất đó không thể xoá nhoà được ranh giới mang tính lí thuyết giữa khái niệm “chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu” và khái niệm “pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu”. Sự khác nhau mang tính lí thuyết giữa hai khái niệm này thể hiện ở chỗ, chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là cái chung, cái bao quát và có tính trừu tượng; còn phầp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là cái riêng, cái cụ thể và hiện hữu. Mặt khác, giữa hai khái niệm này cũng thể hiện mối quan hệ ràng buộc, chi phối lẫn nhau. Điều đó thể hiện ở chỗ, chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là cơ sở chính trị để hình thành và thực hiện pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Còn pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu lại là công cụ, phương tiện chủ yếụ để thực hiện chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của một nước trong một giai đoạn nhất định, thông qua việc thể chế hoá chính sách này thành những điều khoấn cụ thể của pháp luật thực định.

Những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách, pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế .

Xét trên bình diện lí thuyết, mặc dù chính sách thuế xuất

khẩu, thuế nhập khẩu và pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu luôn phản ánh ý chí chủ quan của đảng cầm quyền và nhà nước quản lí nhưng mảng chính sách, pháp luật này luôn bị chi phối và ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, trong đó đáng kể nhất là các yếu tố sau đây:

Thứ nhất, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và quốc tế ở một thời kì nhất định là yếu tố có ảnh hưởng mang tính quyết định đến nội dung chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và nội dung pháp luật thực định về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong giai đoạn đó. Vào thời điểm tháng 2 và tháng 3 năm 2004, do tình hình tăng giá đột biển của mặt hàng sắt thépttên thị trường nên để điều tiết giá cả của mặt hàng này, Nhà nước đã phài điều chỉnh theo hướng giảm thuế nhập khẩu đối với mặt hàng phôi thép và thép thành phẩm nhập khẩu. Xem: Quyết định của Bộ tài chính số 22/2004/QĐ-BTC ngày 27/02/2004 về việc quy định mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng sắt thép; Quyết định cùa Bộ tài chính sọ 23/2004/QĐ-BTC ngày 01/03/2004 về việc quỹ định tạm thời mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng sắt thép.

Điều này hoàn toàn dễ hiểu, bởi lẽ suy cho cùng thì chính sách và pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chỉ là tấm gương phản chiếu thực trạng kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế mà thôi. Xuất phát từ nhu cầu đảm bảo sự hài hoà giữa lợi ích chung của quốc gia và lợi ích riêng của từng doanh nghiệp, từng cá nhân và hộ gia đình, chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong từng thời kì có thể sẽ được xây dựng và thực hiện theo hướng thiên về mục tiêu bảo hộ; mục tiêu tăng thu ngân sách hoặc/và mục tiêu tự do hoá thương mại.

Thứ hai, xu hướng và trào lưu hội nhập kinh tế quốc tế có ảnh hưởng quan trọng đến nội dung chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của một quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể. Để thực hiện các cam kết quốc tế ưong tiến trình hội nhập mà điển hình Ịà AFTA, Việt Nam đã xây dựng một lộ trình thực hiện việc cắt giảm thuế quan tong vòng 10 năm (từ năm 1996 đến năm 2006). Đối với Việt Nam, những thay đổi lớn lao và quan trọng trong chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thực sự đã được khởi động từ năm 1998 (để thực hiện cam kết giảm thuế theo quy định của AFTA) và gần đây nhất là những thay đổi trong chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hoá xuất nhập khẩu đến hoặc từ Hoa Kỳ và các nước thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO) nhằm thực hiện các cam kết giảm thuế theo Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và hiệp định WTO. Hầu hết những thay đổi này đều được thể chế hoá thành các quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhằm đảm bào tính khả thi và tính hiện thực cho các chính sách đó trong thực tiễn.

Luật MInh Khuê (sưu tầm và bien tập)