NỘI DUNG TƯ VẤN:
Trong quá trình thực thi pháp luật thuế nhập khẩu, có rất nhiều yếu tố tác động ảnh hưởng đến quá trình thực thi pháp luật trên thực tế. Trước tiên là ảnh hường từ những yếu tố khách quan như tình hình sự phát triển của nền kinh tế, chính trị quốc tế cũng như của quốc gia; sự ảnh hưởng của các chính sách kinh tế của quốc gia, cũng như vai trò của các cơ quan có chức năng thực hiện việc thu thuế cũng như ý thức của những đối tượng nộp thuế cũng đóng vai trò quan trọng. Trong rất nhiều các yếu tố chi phối đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu thì trong nội dung bài viết lần này, em xin tìm hiểu một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trong năm 2013 như sau:
1. Tình hình kinh tế, chính trị trong nước, quốc tế và các chính sách thương mại quốc gia:
Tình hình trong nước và quốc tế ở một thời kì nhất định là yếu tố ảnh hường quyết định đến nội dung chính sách thuế nhập khẩu và nội dung pháp luật thực định về thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu trong giai đoạn đó. Xuất phát từ nhu cầu đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích chung của từng quốc gia với lợi ích riêng của từng doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình, chính sách thuế xuất nhập khẩu trong từng thời kì có thế sẽ được xây dựng và thực hiện theo hướng thiên về mục tiêu bảo hộ, mục tiêu tăng thu ngân sách hoặc tự do hóa thương mại.
a. Tình hình kinh tế
Trong năm 2013, tình hình kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến tích cực so với những năm trước: bình quân đầu người tăng, tỷ lệ hộ nghèo giảm, tỷ lệ lạm phát được giữ ở mức ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến tích cực đó, nền kinh tế Việt Nam cũng đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như: nạn thất nghiệp ngày càng tăng, sản xuất ngày càng kém phát triển, hàng hóa sản xuất ngày càng kém cạnh tranh với hàng nước ngoài như hàng của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,…những hàng hóa của các nước này ngày càng lan rộng trên khắp Việt Nam, làm cho hàng nội địa gần như không có khả năng cạnh tranh, không còn chỗ đứng trên thị trường, chủ yếu là do các hàng hóa từ nước ngoài nhập vào Việt Nam giá thành rẻ hơn nhiều so với hàng nội địa cùng loại sản xuất, chính vì vậy mà người tiêu dùng đương nhiên sẽ lựa chọn hàng nước ngoài hơn hàng của Việt Nam vì hàng hóa vừa rẻ, chất lượng lại tốt. Chính vì vậy mà Luật thuế xuất, thuế nhập khẩu ra đời có vai trò quan trọng là công cụ khuyến khích hỗ trợ bảo vệ nền sản xuất trong nước và chống lại xu thế cạnh tranh không cân sức giữa hàng hóa nước ngoài và hàng hóa trong nước. Vì vậy, mỗi quốc gia phải nghiên cứ đánh giá những lợi thế của những sản phẩm nội địa cụ thể để xác định những ngành sản xuất nào cần được bảo hộ, mức độ bảo hộ và thời gian bảo hộ,…Qua đó, làm căn cứ để ban hành pháp luật cho phù hợp với hoạt động sản xuất trong nước, hạn chế được phần nào sự độc chiếm thị trường của hàng ngoại nhập. Đây cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật Luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam.
b. Tình hình chính trị
Tình hình chính trị ở Việt Nam tương đối ổn định, không xảy ra các cuộc bạo loạn, chiến tranh hay khủng bố. Tuy nhiên, những thành phần chống phá nhà nước, những người có hành động phản Đảng và những thế lực thù địch bên ngoài vẫn còn tồn tại cần phải đề phòng. Nhiều vụ tham nhũng, hố lộ ngày càng diễn ra phức tạp, hay những chiêu trò để thao túng thị trường nông sản trong nước của Trung Quốc gây bất lợi cho nền kinh tế lẫn chính trị của nước ta. Do đó, bên cạnh chính sách duy trì nền chính trị trong nước ổn định, Đảng và Nhà nước ta cần siết chặt hơn nữa công tác quản lý hàng hóa nhập vào trong nước, tránh để trường hợp lợi dụng chính sách hội nhập để thực hiện âm mưu về chính trị, thao túng thị trường trong nước gây nên nhiều bất lợi cho quốc gia.
c. Xu hướng và trào lưu hội nhập kinh tế thế giới
Việt Nam cũng là một trong những quốc gia không nằm ngoài xu hướng toàn cầu hóa, phải biết nắm bắt những cơ hội của nó để đưa đất nước nhanh chóng hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy mà Việt Nam ngày càng gia nhập nhiều tổ chức quốc tế như WTO, AFTA,… Để đáp ứng yêu cầu hội nhập, pháp luật thuế nhập khẩu ở mỗi quốc gia được xây dựng và hoàn thiện theo những hướng cơ bản của luật quốc tế. Chính vì vậy, luật thuế của mỗi quốc gia sẽ phản ánh tình trạng hội nhập của mỗi quốc gia đó, nó chịu sự chi phối và tác động mạnh mẽ của các Điều ước quốc tế. Sau khi gia nhập các tổ chức quốc tế, Việt Nam phải ban hành nhiều văn bản pháp luật bổ sung, hướng dẫn thậm chí là các văn bản mới cho phù hợp với quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó cũng có sự sửa đổi, bổ sung pháp luật thuế nhập khẩu nhằm đảm bảo tính khả thi và tính hiện thực cho các chính sách đó trong thực tiễn. Việt Nam tiếp tục mở cửa thị trường theo cam kết trong ASEAN và WTO trong năm 2013. Một số cam kết về mở của thị trường, giảm thuế nhập khẩu theo cam kết trong ASEAN và WTO tiếp tục được thực hiện. Do đó, hàng hóa nước ngoài được đua vào thị trường Việt Nam nhiều hơn, làm tăng lượng cung ứng hàng hóa trên thị trường và có thể khiến giá cả hàng hóa, đặc biệt là giá hàng tiêu dùng sẽ giảm xuống. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm giảm đáng kể lạm phát trong năm 2013 nhờ vào việc giảm thuế nhập khẩu và mở cửa thị trường.
2. Nhu cầu ngân sách của Nhà nước:
Đối với hầu hết các nước, khoản tiền thu được từ thuế nhập khẩu luôn là một trong những khoản thu ngân sách đặc biệt quan trọng cho Ngân sách Nhà nước. Đặc biệt, đối với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì thuế nhập khẩu lại càng có yếu tố quan trọng và không thể thiếu đối với nguồn thu ngân sách nhà nước. Căn cứ vào nguồn thu chi của Ngân sách Nhà nước mà cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh pháp luật về Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sao cho phù hợp với nhu cầu của đất nước. Cụ thể, trong năm 2013 các giải pháp tăng thu đã đem lại nhiều hiệu quả: Theo Cục Thuế xuất khẩu nhập khẩu – Tổng cục Hải quan, số thu Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu của ngành Hải quan tăng mạnh trong tháng 7/2013 có nguyên nhân từ việc áp dụng Luật Quản lý thuế sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2013, cho phép thu ngay các khoản ân hạn thuế của các tờ khai xuất nhập khẩu trong tháng 06 năm 2013. Bên cạnh đó, khoản thu từ các tờ khai phát sinh trong tháng 7 cũng tăng khá, đạt 25.000 tỷ đồng. Ước thu Ngân sách tháng 7 năm 2013 đạt 119.694 tỷ đồng, bằng 50,4% so với dự toán, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2012. Như vậy, nhu cầu ngân sách nhà nước cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến việc sửa đổi, bổ sung pháp luật thuế nhập khẩu, cũng như việc thực thi pháp luật về thuế nhập khẩu trên thực tế.
3. Hệ thống văn bản pháp luật còn một số hạn chế:
Hệ thống văn bản pháp luật là một trong những yếu tố có tầm ảnh hưởng không hề nhỏ đến việc thực thi pháp luật trên thực tế, không chỉ riêng đối với thuế nhập khẩu mà tất cả các văn bản pháp luật phải phù hợp với thực tiễn xã hội, có như thế thì văn bản đó mới được thực thi một cách hiệu quả trên thực tế. Tính đến năm 2013, bên cạnh những thành quả đã đạt được, hệ thống pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam còn một số thiếu sót cần được khắc phục. Cụ thể: hoạt động thương mại của nước ta ngày càng được mở rộng, mức độ cạnh tranh ngày càng cao, hàng hóa được nhập khẩu vào nước ta từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau với giá cả cạnh tranh nhau. Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có quy định về biện pháp về thuế để tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt đối xử (Điều 11 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) nhằm bảo vệ doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, thời điểm này, Ủy ban thường vụ Quốc hội mới ban hành ba pháp lệnh: Pháp lệnh thuế tự vệ năm 2002, Pháp lệnh thuế chống bán phá giá năm 2004 và pháp lệnh chống trợ cấp năm 2004. Nhưng trên thực tế, mới chỉ có một nghị địn hướng dẫn về chống bán phá giá, còn các biện pháp khác vẫn chưa có văn bản cụ thể nào hướng dẫn chi tiết. Chính vì có sự thiếu sót này đã gây ra khó khăn trong việc áp dụng các biện pháp bổ sung về thuế đối với các doanh nghiệp nước ngoài vì không có hướng dẫn cụ thể, cơ quan có thẩm quyền cũng không có căn cứ để áp dụng, đồng nghĩa dẫn đến việc không bảo vệ được lợi ích của các ngành sản xuất trong nước.
Bên cạnh đó, một số quy định trong Luật Thuế xuất khảu, thuế nhập khẩu không còn phù hợp với những nội dung mà Việt Nam đã cam kết trong đàm phán quốc tế, không làm rõ được tính minh bạch cho hệ thống pháp luật của Việt Nam. Một số quy định của Luật còn chưa thống nhất, mâu thuẫn với nhau như Điều 70 trong Luật Hải quan mâu thuẫn với Điều 2 và Điều 10 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Những thiếu sót và mâu thuẫn này gây khó khăn không nhỏ cho việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trên thực tế.
4. Đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý thuế còn yếu về số lượng, cơ sở vật chất:
a. Về đội ngũ cán bộ
Thực tế cho thấy, lực lượng cán bộ Hải quan Viêt Nam còn mỏng về số lượng và chưa đáp ứng được nhu cầu công việc, chất lượng cán bộ không đồng đều. Tuy có nhiêt huyết với nghề nhưng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, số lượng biên chế làm cán bộ hải quan còn ít và chính sách đãi ngộ chưa hợp lý nên hải quan địa phương rất khso thu hút nhân tài, tuyển dụng được các đối tượng có trình độ cao, giỏi công nghệ thông tin.
Năng lực, kỹ năng nghiệp vụ còn yếu kém của nhiều cán bộ cũng là một trong những yếu tố ảnh hường không nhỏ đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu. Tuy các cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt nhưng họ lại không đủ khả năng để nhận biết, phát giác những hành vi trốn thuế ngày càng tinh vi của các đối tượng, gây thất thoát lớn cho ngân sách nhà nước và cũng ảnh hưởng đến mục đích điều tiết hàng hóa, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển ổn định như vai trò quan trọng của thuế nhập khẩu đề ra. Trên thực tế, trong năm 2013, đã có nhiều cán bộ ngành Hải quan bị xử lý vì liên quan đến tham nhũng và hối lộ. Ví dụ: Tháng 06 năm 2013, Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai đã xử các bị cáo Trần Minh Thượng, sinh năm 1964, nguyên Chi cục trưởng Hải quan cửa khẩu Mường Khương 20 năm tù và Nguyễn Văn Cường 12 năm tù về tội nhận hối lộ gần 1,5 tỷ đồng của một doanh nghiệp để làm dịch vụ cho một số đơn vị có hàng tạm xuất, tái xuất qua cửa khẩu Mường Khương cả trong và ngoài giờ hành chính.
b. Về cơ sở vật chất
Nhìn chung các đơn vị hải quan đã được đầu tư tương đối hiện đại như có máy tình, phần mềm quản lý, trụ sở làm việc,… Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả của sự đầu tư này còn chưa cao, thậm chí còn dàn trải, gây lãng phí. Một số đơn vị hải quan ở thành phố thì được tạo cơ sử vạt chất hiện đại, thậm chí còn lãng phí, ngược lại thì các đơn vị hải quan ở vùng xa, vùng biên giới như Móng Cái (Quảng Ninh), Cha Lo (Quảng Bình), La Lay (Quảng Trị), Cầu Treo (Hà Tĩnh),… chất lượng còn chưa tốt như đường truyền dữ liệu chưa tốt, công tác truyền, nhận thong tin nội bộ đến các đơn vị hải quan của khẩu cũng hay bị mắc lỗi, thường xuyên trục trặc. Các doanh nghiệp cũng như cán bộ hải quan vẫn đang gặp nhiều khó khăn do đường truyền hải quan điện tử bị nghẽn và máy móc làm hàng tại cảng có vấn đề. Việc đưa container qua máy soi, chuyển container còn rất chậm. Phương tiện trang thiết bị trợ giúp cho cán bộ hải quan vẫn còn lạc hậu, gây nhiều khó khăn cho công tác điều tra, kiểm tra đặc biệt trong công tác chống buôn lậu,…
Như vậy, có thể thấy, từ những yếu kém, hạn chế và khó khăn như trên đã khiến cho việc thực thi pháp luật Luật thuế nhập khẩu khó có thể thực hiện tốt trên thực tế.
5. Ý thức của người nộp thuế:
Chủ thể nhập khẩu cũng như các chủ thể nộp thuế khác, ít ai tự nguyện nộp thuế mà họ thường dựa vào các quy định của pháp luật để tìm ra nhiều cách để trốn thuế, giảm số thuế phải nộp, gian lận trong qua trình nộp thuế. Bởi lẽ, khoản tiền mà các chủ thể nộp thuế phải nọp cũng tương đối cao, nếu thường xuyên nộp thuế và phải nộp nhiều thuế thì doanh nghiệp cũng như các chủ thể khá không thu được nhiều lợi nhuận, cũng như không phát triển kinh doanh dduwwocj. Chính vì vậy, các hành vi gian lận thuế trong hoạt động nhập khẩu ngày càng gia tang và diễn biến phức tạp. Trong năm 2013, các hành vi gian lận phổ biến nhất thường gặp là hành vi buôn lậu, gian lận, trốn thuế về mặt hàng, số lượng, mã hàng, xuất xứ, giá tính thuế hay lợi dụng các chính sách ưu đãi, miễn trừ thuế của nhà nước để trốn thuế… Cụ thể:
Trước tiên là hành vi trốn thuế. Trong thời gian qua, việc buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ hàng nhập lậu, hàng cấm có diễn biến phức tạp. Sau khi nhập lậu vào Việt Nam, các mặt hàng này được chia nhỏ, vận chuyển bằng xe khách, xe tải và được hợp pháp hóa bằng hệ thống hóa đơn mua qua bán lại giữa các doanh nghiệp. Nhiều chủ hàng đã thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhạp khẩu nhưng không khai báo đầy đủ các mặt hàng hoặc cố tình khai thiếu số lượng hàng xuất nhập khẩu để không phải nộp thuế. Ví dụ: trong năm 2013, cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án đối với một hoạt động buôn lậu, chiếm đoạt tiền thuế có tổ chức và diễn ra trong thời gian dài là Công ty Cổ phần Thực phẩm Sài Gòn, khai xuất khẩu 3000 thùng thuốc lá, trị giá hàng hóa 23,6 tỷ đồng, nhưng kết quả hàng hóa qua kiểm tra thực tế là 20 tấn gạo.
Hành vi tiếp theo mà các đối tượng nộp thuế thường áp dụng là khai sai chủng loại hàng hóa, sai xuất xứ hàng hóa nhập khẩu để được miễn trừ hoặc được áp dụng thuế xuất ưu đãi hoặc thuế suất ưu đãi đặc biệt đối với hàng hóa có xuất xứ từ các quốc gia, vùng lãnh thổ mà Việt Nam ký kết hiệp ước. Càng ngày số lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ngày càng gia tăng mà thủ tục kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu của các cơ quan hải quan không hề đơn giản và nhanh chóng, hơn nữa số lượng cơ quan hải quan cũng có hạn nên số lượng công việc quá tải đẫn đến việc cơ quan hải quan chỉ tiến hành kiểm tra thực tế hàng hóa khi có nghi vấn hoặc có mức độ rủi ro cao. Đây là một trong những lỗ hổng thuận lợi để chủ thể nộp thuế có thể lợi dụng để trốn thuế hoặc giảm số thuế phải nộp bằng cách cố tình khai sai tên hàng hóa, gian lận thuế bằng cách nhập khẩu hàng hóa là sản phẩm hoàn chỉnh nhưng lại tháo bớt một số bộ phận để trở thành hàng hóa chưa hoàn chỉnh,… Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính trung bình hằng năm có khoảng 10.000 mẫu hàng hóa được phân tích, phân loại. Trong đó, mẫu khai đúng chiếm 47%, sai khoảng 53%, giảm thuế khoảng 7,4%. Một ví dụ điểm hình trong năm 2013, vào tháng 05 Cục Hải quan Hải Phòng đã phát hiện Công ty Cổ phần Minh Châu khai sai tên chủng loại, nhãn hiệu mặt hàng xe đạp điện, giá nhập về chỉ 60 USD/chiếc. Cơ quan hải quan đã yêu cầu doanh nghiệp phải điều chỉnh giá xe đạp điện lên 3 lần (khoảng 150 USD/chiếc) và nộp bổ sung hơn 2 tỷ đồng tiền thuế.
Nói đến những hành vi trốn thuế thì không thể không kể đến hành vi gian lận thuế thông qua giá tính thuế trong hoạt động nhập khẩu. Trong năm 2013, Cơ quan hải quan đã phát hiện được rất nhiều vụ gian lận giá tính thuế của các doanh nghiệp với nhiều thủ đoạn và hành vi tinh vi. Một số vụ việc mà cơ quan điều tra phát hiện ra: Chi cụa hải quan cảng Sài Gòn KV4 (Tp. Hồ Chí Minh) phát hiện lô hàng mang nhãn hiệu Pierre Cardin do công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Hoa Mặt Trời có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh nhập khẩu vào tháng 5 năm 2013. Theo khai báo của doanh nghiệp, hàng hóa gồm váy, quần lót, áo ngực,… có giá nhập về chỉ từ 6000 – 16000 đồng/chiếc. Trong khi đó, các sản phẩm này được bán tại các cửa hàng thời trang, trung tâm thương mại lớn với giá khoảng 300.000 – 400.000 đồng/chiếc, tức gấp 25 lần giá kê khai của doanh nghiệp. Tương tự, khi làm thủ tục mở tờ khai hải quan, Công ty Tiến Thành khai báo những đôi giày da hiệu Valentino có xuất xứ từ Trung Quốc, giá trị thấp chỉ từ 16.000 đồng/đôi đến 300.000 đồng/đôi. Thực tế, giá thị trường của loại giày này vào khoảng 3 đến 5 triệu đồng/đôi, cao gấp nhiều lần so với khai báo. Bên cạnh đó, còn có nhiều vụ gian lận thuế mà cơ quan hải quan phát hiện được gây thất thoát một khoản tiền thuế lớn cho Ngân sách Nhà nước.
Giả mạo mục đích xuất khẩu, nhập khẩu để được hưởng ưu đãi thuế cũng là một trong những hành vi gian lận thuế của chủ thể nộp thuế. Các trường hợp phổ biến là gian lận thuế qua việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư; gian lận qua việc lợi dụng chính sách quản lý đối với hàng gia công; gian lận thông qua việc lợi dụng hình thức tạm nhập, tái xuất và tạm xuất tái nhập,… Điển hình là vụ buôn lậu xăng A92 lợi dụng hình thức tạm nhập tái xuất, trị giá ước tính 27 tỷ đồng tại vùng biển Thanh Hóa; hành vi buôn lậu của Công ty TNHH một thành viên xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) dưới hình thức lợi dụng tạm nhập tái xuất xăng dầu qua cửa khẩu đường bộ để buôn lậu 296,6 tấn xăng A92 trị giá khoảng 8 tỷ đồng, số thuế doanh nghiệp gian lận ước tính trên 2,5 tỷ đồng. Ngoài ra, nhiều chủ doanh nghiệp lợi dụng quy định chuyển cửa khẩu để gian lận thuế, lợi dụng chính sách ân hạn thuế để nợ thuế sau đó tẩu tán bán hàng và bỏ trốn khỏi trụ sở kinh doanh không làm thủ tục giải thể để tránh nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước,…
Với những thủ đoạn như trên, việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu, cụ thể là hoạt động thu thuế, các cơ quan hải quan phải thu thập các nguồn thông tin, đồng thời phải có kỹ năng nghiệp vụ giỏi mới có thể ngăn chặn, hạn chế được những thủ đoạn trốn thuế, gian lận thuế của các chủ thể nộp thuế. Nhà nước cần có những biện pháp, chính sách cụ thể để tăng hiệu quả việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trên thực tế.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê