1. Khái quát văn hóa doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

1.1 Nhận diện văn hóa doanh nghiệp Việt Nam dưới góc độ văn hóa

Nghiên cứu về văn hoa Việt Nam cũng cho thấysự xuất hiện của bốn biến số giống như trong nghiên cứu của Hofstede: sư phân cấp quyền lực; tính cẩn trọng; tính đối lập giữa CNCN và CNTT; tính đối lập giữa nam quyền và nữ quyền. Phác thảo chân dung VHDN Việt Nam thông qua bốn yêu tố trên tuy có thể chưa thật sự đầy đủ song cũng tạo ra một nền tảng chung để nhận dạng sự khác biệt trong VHDN Việt Nam so với VHDN của các nước khác.
Nội dung chính về các nhân tố ảnh hưởng tới văn hóa doanh nghiệp?

Sự phân cấp quyền lực: Cũng giống như đa số các nước châu Á khác,Việt Nam là nước có mức độ phân cấp quyền lực khá cao.Sự phân cấp này thể hiện rất rõ qua: cơ cấu tổ chức trong các doanh nghiệp Việt Nam; mức độ phụ thuộc rất cao trong mối quan hệ giữa các cấp trong doanh nghiệp. Hiện nay, các doanh nghiệp ở Việt Nam có thể được chia thành hai nhóm chủ đạo là doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân

Sự khác biệt lớn nhất về mặt tổ chức giữa các doanh nghiệp nhà nước(DNNN) với doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là cơ cấu tổ chức hai cấp lãnh  đạo, một cấp thuộc vềchính quyền, một thuộc về Đảng Cộng sản Việt Nam. Đàng bộ có mặt trong hầu hết các DNNN với nhiệm vụ chủ yếu là giám sát và đảm bảo định hướng chiến lược của công ty đi đúng định hướng của Đảng, tham gia vào các quyết định quan trọng. Ở hầu hết các DNNN thì giám đốc và bí thư Đảng ủy là hai người khác nhau nhưng có vai trò quan trọng như nhau. Còn trong các DNTN,vai trò của Đảng bộ hạn chế hơn nhiều.Giám đốc,thường là người có cổ phần lớn nhất trong công ty,nắm vai trò chủ đạo Trong mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, dù là DNNN hay DNTN thì đềuchịu sự chỉ đạo của một cơ quan chủ quản cấp trên như Bộ hayUBND Thành phố. Ngay trong doanh nghiệp,dù thuộc hình thức sở hữu nào,sự phân cấp này cũngthể hiện rất rõ. Trong xã hội Việt Nam, tôn ti trật tự phụ thuộc vào hai yêu tố: chứcc vụ và tuổi tác.Tuy giám đốc là người có quyền quyết định tối cao nhưng vẫn phải tỏ ra tôn trọng những người cao tuổi, nhất là khi người này làm việc lâu năm trong công ty. Hơn nữa,các tổ chứcc doanh nghiệp Việt Nam đóng vai trò quan trọng cả trong đời sống tại công sở lẫn đời sống riêng tư của cá nhân, quan tâm đến nhân viên không chỉ về mặt lương bổng mà còn cả về những nhu cầu khác của họ trong cuộc sống hàng ngày như nhà cửa,đất đai,bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chăm sóc con cái, và giải trí. Đặc biệt là các nhà máy, xí nghiệp sản xuất, thường có nhà trẻ dành riêng cho con em của nhân viên trong cơ quan, có khu tập thể dành cho các cán bộ nhân viên của xí nghiệp...
Hàng năm các doanh nghiệp thường có thông lệ tổ chức cho nhân viên đi nghỉ mát vào dịp hè hay đầu xuân. Có thể thấy các tổ chức doanh nghiệp ở Việt Nam giống như một gia đình thu nhỏ và người lãnh đạo gần như là những ông bố, bà mẹ, phải quán xuyến hết tất cả cáccông việc trong gia đình. Chính vì vậy, nhân viên cấp dưới trở nên rất phụ thuộc, ít quyền tự quyết định và phải tuân theo mọi sự chỉ dẫn của cấp trên. Dấu ấn của phong cách quản lý "gia trưởng" tương đối rõ ràng ở đây

1.2 Tính cẩn trọng cao

Tính cẩn trọng phản ánh mức độ mà thành viên của các nền văn hóa khác nhau chấp nhận các tình thế rối ren hoặc sự bất ổn. Có thể kết luận VHDN Việt Nam có chỉ số cẩn trọng cao, điều đó thể hiện qua các dấu hiệu sau:
Tính ưa ổn định
Như đã phân tích ở phần trên, lối sống trọng tĩnh ảnh hưởng lên cách thức làm việc của cả cá nhân và doanh nghiệp. Ở Việt Nam, người lao động thích những công việc có tính ổn định, không phải đi công tác nhiều, doanh nghiệp không thích những phi vụ nhiều rủi ro, dù có khả năng đem lại nhiều lợi nhuận.

1.3 Tránh xung đột trong quan hệ

Xuất phát từ ý thức giữ thể diện và xu hướng tránh mọi xung đột trong quan hệ, doanh nhân Việt Nam thường không chỉ trích một cách mạnh mẽ. Họ cho rằng việc nói “không” một cách thẳng thắn sữ làm tổn thương đến đối tác và làm ảnh hưởng đến mối quan hệ sau này. Bởi vậy thay vì nói “không” thì các doanh nhân Việt Nam thường nói “chúng tôi sẽ xem xét vấn đề này”. Điều này thương có thể hay gây hiểu nhầm cho các đối tác lần đầu tới Việt Nam làm việc.
Không chỉ trong thương thuyết, ngay cả trong các mối quan hệ khác, người Việt Nam cũng có xu hướng tránh nói từ "không". Một ví dụ điển hình là doanh nghiệp khi tuyển dụng thường có vòng xem xét hồ sơ, thí sinh được lựa chọn sẽ được mời đến phỏng vấn, trong khi những thí sinh không hề nhận được hồi âm gì sẽ tất hiểu là hổ sơ của mình bị từ chối. Thông lệ này khác hẳn với các doanh nghiệp ở phương Tây hoặc nhiều doanh nghiệp Việt Nam liên doanh với nước ngoài, thí sinh bị từ chối sẽ được gửi một lá thư từ chối lịch sự. Điều này sẽ gây được cảm tình cho cá cứng viên và góp phần xây dựng hình ảnh tốt đẹp về công ty.

1.4 Sự coi trọng các mối quan hệ

Các mối quan hệ cá nhân có vai trò quan trọng trong kinh doanh ở Việt Nam. Hệ thống luật lệ của Việt Nam đòi hỏi rất nhiều giấy phép, Ví dụ muốn kinh doanh xăng dầu trước hết phải có đủ 4 đến 5 giấy phép khác nhau như giấy phép về an toàn phòng cháy chữa cháy, giấy phép về an ninh trật tự, rồi sau đó mới được cấp giấy phép của sở công thương. Các doanh nghiệp có xin được giấy phép hay không, xin được một cách nhanh chóng hay phải chờ đợi trong một thời gian dài, tất cả phụ thuộc vào doanh nghiệp đó có mối quan hệ như thế nào đối với cơ quan chức năng có liên quan.
Ở Việt Nam, Doanh nhân coi những mối quan hệ ngang thậm chí là hơn tiền bạc nên luôn đầu tư cho chúng như một cách để tự bảo hiểm. Đó chính là lý do hình thành nên văn hóa “chiêu đãi, tiệc tùng” giữa DN với đối tác của mình. Các loại quà cáp, biếu xén là không thể thiếu trong các công tác ngoại giao của một doanh nghiệp.

1.5 Quan niệm về chủ nghĩa tập thể

So với các doanh nghiệp phương tây, môi trường doanh nghiệp Việt Nam ít khuyến khích vai trò nổi bật của một cá nhân, các thành tích cá nhân thường được gắn liền với vai trò của tập thể. Chính ảnh hưởng của tính coi trọng tập thể trong VHDN và hệ tư tưởng XHCN tạo ra phương pháp lãnh đạo tập thể ở Việt Nam đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước. Nếu các doanh nghiệp Âu - Mỹ thường ra quyết định nhanh chóng dựa trên ý kiến của cá nhân người lãnh đạo thì việc ra quyết định ở doanh nghiệp Việt Nam lại đòi hỏi nhiều thời gian và ảnh hưởng của ý kiến tập thể.
Ngoài ra, cũng do nhấn mạnh tới vai trò tập thể nên ở Việt Nam, con dấu của cơ quan quan trọng hơn là chữ ký cá nhân trong khi tại các nước phát triển, trong các hợp đồng, giấy giới thiệu hoặc thư tuef quan trọng, chữ kỹ cá nhân chính là sự bảo đảm về tính xác thực của các văn bản này. Tại Việt Nam, nếu một văn bản mà chỉ có chữ ký cá nhân mà không có đóng dấu thì người ta sẽ nghi ngờ tính đáng tin cậy của văn bản đó.
• Tính đối lập giữa nam quyền và nữ quyền
So với nhiều quốc gia châu Á khác, ý thức về sự bình đẳng nam nữ trong doanh nghiệp ở Việt Nam đạt ở mức rất cao. Ở Việt Nam vẫn còn coi trọng nam quyền do đó số lượng lãnh đạo Nam chiếm đa số trong các doanh nghiệp Việt. Những giá trị mang nam tính như sự thành đạt, quyền lực, tính quyết đoán dễ được đề cao hơn giá trị nữ tính như bao dung, thông cảm…

2. Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

Việt Nam là quốc gia có hàng nghìn năm văn hiến. Qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, dân tộc Việt Nam đã xây dựng nên hệ quan điểm giá trị, nguyên tắc hành vi và tinh thần cộng đồng mang bản sắc Việt Nam đậm nét. Sự ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, văn hóa Ấn Độ và văn hóa phương Tây đã khiến cho văn hóa Việt Nam đa dạng, nhiều màu sắc. Hơn nữa, 54 dân tộc trên đất nước ta là 54 nền văn hóa  khác  nhau, góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, một mặt, phải tích cực tiếp thu kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp của các nước phát triển.
Mặt khác, cần nỗ lực xây dựng văn hóa doanh nghiệp tiên tiến, hài hòa với bản sắc văn hóa dân tộc, với văn hóa từng vùng, miền khác nhau thúc đẩy sự sáng tạo của tất cả các thành viên trong các doanh nghiệp khác nhau. Đặc điểm nổi bật của văn hóa dân tộc là coi trọng tư tưởng nhân bản, chuộng sự hài hoà, tinh thần cầu thực, ý chí phấn đấu tự lực, tự cường… đây là những ưu thế để xây dựng văn hóa doanh nghiệp mang bản sắc Việt Nam trong thời hiện đại.
Tuy nhiên, văn hóa Việt Nam cũng có những điểm hạn chế: người Việt Nam phấn đấu cốt để “vinh thân phì gia”, yêu thích trung dung, yên vui với cảnh nghèo, dễ dàng thoả mãn với những lợi ích trước mắt, ngại cạnh tranh; tư tưởng “trọng nông khinh thương” ăn sâu vào tâm lý người Việt đã cản trở không nhỏ đến việc mở rộng kinh tế thị trường, làm ăn; tập quán sinh hoạt tản mạn của nền kinh tế tiểu nông không ăn  nhập  với lối sống hiện đại; thói quen thủ cựu và tôn sùng kinh nghiệm, không dám đổi mới, đột phá gây trở ngại cho sự phát triển của các doanh nghiệp hiện đại…
Tuy nhiên, trong xã hội tri thức ngày nay, những mặt hạn chế dần được khắc phục bởi trình độ giáo dục của mọi người ngày càng được nâng cao, quan điểm về giá trị cũng có những chuyển biến quan trọng. Cùng với sự thay đổi nhanh chóng của kinh tế thế giới, nhất là khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của WTO, quản lý kinh doanh doanh nghiệp cần phải được tổ chức lại trên các phương diện và giải quyết hài hòa các mối quan hệ: quan hệ thiên nhiên với con người, quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa dân tộc và nhân loại…
Ngày nay, doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới. Toàn cầu hóa kinh tế đòi hỏi việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp phải có những bước tính khôn ngoan, lựa chọn sáng suốt. Không thể để xảy ra tình trạng quốc tế hóa văn hóa doanh nghiệp, mà phải trên cơ sở văn hóa Việt Nam để thu hút lấy tinh hoa của nhân loại, sáng tạo ra văn hóa doanh nghiệp tiên tiến nhưng phù hợp với tình hình và bản sắc văn hóa Việt Nam.
Từ cái nhìn vĩ mô, có thể thấy quá trình xác lập và xây dựng văn hóa doanh nghiệp không ngừng thay đổi theo sự phát triển của thời đại và của dân tộc. Từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay có 4 xu hướng chủ yếu phát triển của văn hóa doanh nghiệp:
1- Tôn trọng con người với tư cách là chủ thể hành vi, coi trọng tính tích cực và tính năng động của con người trong kinh doanh, coi việc nâng cao tố chất của con người là điều kiện quan trọng đầu tiên của phát triển doanh nghiệp;
2- Coi trọng chiến lược phát triển và mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp để bồi dưỡng ý thức văn hóa doanh nghiệp cho toàn thể công nhân viên chức;
3- Coi trọng việc quản lý môi trường vật chất và tinh thần của doanh nghiệp, tạo ra một không gian văn hóa tốt đẹp, bồi dưỡng ý thức tập thể và tinh thần đoàn kết nhằm cống hiến sức lực và trí tuệ cho doanh nghiệp;
4- Coi trọng vai trò tham gia quản lý của công nhân viên chức, khích lệ tinh thần trách nhiệm của tất cả các thành viên trong doanh ngiệp.
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, văn hóa doanh nghiệp Việt Nam có 4 đặc điểm nổi bật :
Thứ nhất, tính tập thể: Quan niệm tiêu chuẩn đạo đức của doanh nghiệp là do toàn thểthành viên doanh nghiệp tích luỹ lâu dài cùng nhau hoàn thành, có tính tập thể.
Thứ hai, tính quy phạm: Văn hóa doanh nghiệp có công năng điều chỉnh kết hợp: trong trường hợp lợi ích cá nhân và doanh nghiệp xảy ra xung đột thì công nhân viên chức phải phục tùng các quy phạm, quy định của văn hóa mà doanh nghịêp đã đề ra, đồng thời doanh nghiệp cũng phải biết lắng nghe và cố gắng giải quyết hài hòa để xóa bỏ xung đột.
Thứ ba, tính độc đáo: Doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau, doanh nghiệp khác nhau ở cùng một quốc gia đều cố gắng xây dựng văn hóa doanh nghiệp độc đáo trên cơ sở văn hóa của vùng đất mà doanh nghiệp đang tồn tại. Văn hóa doanh nghiệp phải bảo đảm tính thống nhất trong nội bộ từng doanh nghiệp, nhưng giữa các doanh nghiệp khác nhau cần phải tạo nên tính độc đáo của mình.
Thứ tư, tính thực tiễn: Chỉ có thông qua thực tiễn, các quy định của văn hóa doanh nghiệp mới được kiểm chứng để hoàn thiện hơn nữa. Chỉ khi nào văn hóa doanh nghiệp phát huy được vai trò của nó trong thực tiễn thì lúc đó mới thực sự có ý nghĩa.
Để phát huy ưu thế của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế toàn cầu, khi đối mặt với các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải xem xét và kiện toàn hơn nữa vấn đề văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp khi được xây dựng hoàn thiện không những kích thích sức phát triển sản xuất mà còn có ý nghĩa quan trọng để xây dựng uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp.

3. Các nhân tố ảnh hưởng tới văn hóa doanh nghiệp

3.1  Nhân tố chủ quan

3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp

Lịch sử hình thành doanh nghiệp là cả một quá trình lâu dài của sự nỗ lực xây dựng và vun đắp cho doanh nghiệp. Đó sẽ là niềm tự hào cho các thành viên trong doanh nghiệp và trở thành những giai thoại sống mãi cùng sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. VHDN không thể hình thành một cách tự phát mà phải được hình thành thông qua nhiều hoạt động kinh doanh sản xuất của bản thân mỗi doanh nghiệp, điều này thể hiện trong quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp đó.

3.1.2 Vị thế cạnh tranh và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

Nhà quản trị cần phải xác định được doanh nghiệp mình đang đứng ở vị trí nào trên thị trường. Ở mỗi một vị trí khác nhau doanh nghiệp cần xây dựng một nền văn hóa ở mức độ phù hợp không những nhằm nâng cao giá trị thương hiệu mà còn đảm bảo cho doanh nghiệp đứng vững được ở vị trí đó và có thể vươn lên cao hơn.
Bên cạnh đó, một chiến lược kinh doanh cụ thể sẽ giúp doanh nghiệp định hình được những bước cần phải đi trong quá trình hoạt động, trong đó bao gồm cả việc xây dựng một nền văn hóa doanh nghiệp xứng tầm với quy mô cũng như năng lực của DN.

3.1.3 Giá trị và ước muốn của Nhà quản trị

Nhà lãnh đạo không chỉ là người quyết định cơ cấu tổ chức và công nghệ của doanh nghiệp, mà còn là người sáng tạo ra các biểu tượng, ngôn ngữ, niềm tin, nghi lễ và huyền thoại… của tổ chức. Quá trình xây dựng và quản lí doanh nghiệp, tư tưởng và tính cách của nhà lãnh đạo sẽ được phản chiếu lên văn hóa doanh nghiệp.

3.1.4 Sự nhận thức và học hỏi giá trị văn hóa khác của đội ngũ nhân viên

Có những giá trị văn hóa doanh nghiệp không thuộc về văn hoá dân tộc, cũng không phải do nhà lãnh đạo sáng tạo ra mà do tập thể nhân viên trong doanh nghiệp tạo dựng nên, được gọi là những kinh nghiệm học hỏi được. Chúng hình thành vô thức hoặc có ý thức và có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động của doanh nghiệp. Hình thức của những giá trị học hỏi được thường rất phong phú, phổ biến như:Những kinh nghiệm tập thể của doanh nghiệp;Những giá trị được học hỏi từ các doanh nghiệp khác; Giá trị văn hóa tiếp nhận trong quá trình giao lưu với nền văn hóa khác.

3.2 Nhân tố khách quan

3.2.1 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh

Đặc điểm ngành nghề cũng có tác động lớn tới văn hóa doanh nghiệp. Với đặc thù của mỗi ngành nghề mà hình thành những nét đặc trưng của văn hóa doanh nghiệp. Những đặc trưng đó có thể trở thành biểu tượng của doanh nghiệp, thành đặc điểm khiến mọi người dễ nhớ và nhớ đến nhiều nhất. Chẳng hạn như trong lĩnh vực thời trang thì phong cách của những công ty kinh doanh thời trang thường có nhiều nét phá cách, không nằm trong một khuôn khổ cứng nhắc nào cả. Những logo, ấn phẩm tạp chí của các công ty này thường khá nổi bật và bắt mắt.

3.2.2 Văn hóa dân tộc

Sự phản chiếu của văn hoá dân tộc lên văn hóa doanh nghiệp là một điều tất yếu. Bản thân văn hóa doanh nghiệp nằm trong văn hoá dân tộc. Mỗi cá nhân trong nền văn hóa doanh nghiệp cũng thuộc vào một nền văn hoá cụ thể, với một phần nhân cách tuân theo các giá trị văn hoá dân tộc. Và khi tập hợp thành một nhóm hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, những cá nhân này sẽ mang theo những nét nhân cách đó. Tổng hợp những nét nhân cách này làm nên một phần nhân cách của doanh nghiệp, đó là các giá trị văn hoá dân tộc không thể phủ nhận được.

3.2.3 Hệ thống thể chế chính trị và pháp luật

Khi Việt Nam gia nhập WTO, sự cạnh tranh trên thương trường diễn ra gay gắt hơn, hệ thống chính trị và pháp luật cũng biến đổi theo khi đó đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh nhạy để có những ứng biến kịp thời trong mọi tình thế. Như vậy doanh nghiệp phải có những bước “chuyển mình” trong việc thay đổi hoạt động kinh doanh sao cho thực hiện tốt mục tiêu mới đã đề ra, việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp phải phù hợp và đem lại lợi ích cho doanh nghiệp.
Tác động tiêu cực lớn nhất của cơ chế thị trường đến văn hóa doanh nghiệp chính là sự đảo lộn các hệ thống giá trị trong mỗi con người trong xã hội nói chung và con người trong doanh nghiệp nói riêng. Môi trường kinh doanh thay đổi, nhiều giá trị truyền thống cũng bị đánh mất như đạo đức kinh doanh của lãnh đạo. Hiện nay, còn nhiều lãnh đạo doanh nghiệp không nắm bắt được luật pháp cũng như quy định của Nhà nước dẫn đến việc tranh chấp, kiện tụng ảnh hưởng đến uy tín và lợi ích của doanh nghiệp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê