1. Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tòa án quân sự

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án quân sự:

Các Tòa án quân sự được tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam để xét xử những vụ án mà bị cáo là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy định của luật.

- Tổ chức Tòa án quân sự bao gồm:

  • Tòa án quân sự trung ưomg.
  • Tòa án quân sự quân khu và tương đương.
  • Tòa án quân sự khu vực.

2. Tòa án quân sự Trung ương

- Chức năng, nhiệm vụ Tòa án quân sự Trung ương:

  • Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án quân sự quân khu và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực bị kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Cơ cấu tổ chức của Tòa án quân sự trung ương gồm:

  • Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương.
  • Tòa phúc thẩm Tòa án quân sự trung ương.
  • Bộ máy giúp việc.

+ Ủy ban Thẩm pháp Tòa án quân sự trung ương:

Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương bao gồm Chánh án, Phó Chánh án là Thẩm phán cao cấp và một số Thẩm phán cao cấp do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án quân sự trung ương.

Tổng số thành viên ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương không quá 07 người.

Ủỵ ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

  • Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực bị kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;
  • Thảo luận, góp ý kiến đối với báo cáo của Chánh án Tòa án quân sự trung ương về công tác của các Tòa án quân sự để báo cáo với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Phiên họp của ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia; quyết định của ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.

+ Tòa phúc thẩm Tòa án quân sự trung ương 

Nhiệm vụ, quyền hạn: Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án quân sự quân khu và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của luật.

3. Tòa án quân sự quân khu và tương đương

- Cơ cấu, tổ chức của Tòa án quân sự quân khu và tương đương gồm:

  • Ủy ban Thẩm phán.
  • Bộ máy giúp việc.

Tòa án quân sự quân khu và tương đương có Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, công chức khác và người lao động.

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định thành lập và quy định nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy giúp việc trong Tòa án quân sự quân khu và tương đương sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

- Nhiệm vụ, quyền hạn:

  • Sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Phúc thẩm vụ án hình sự mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án quân sự khu vực chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của luật.

- Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu và tương đương

+ Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu và tương đương gồm Chánh án, Phó Chánh án và một số Thẩm phán. Số lượng thành viên của ủy ban Thẩm phán do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương.

Phiên họp ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu và tương đương do Chánh án chủ trì.

+ Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu và tương đương có nhiệm vụ, quyền hạn:

Thảo luận về việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Tòa án quân sự quân khu và tương đương.

Thảo luận báo cáo công tác của Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương với Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Quốc phòng.

Tổng kết kinh nghiệm xét xử.

Thảo luận về kiến nghị của Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương đề nghị Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo yêu cầu của Chánh án.

4. Tòa án quân sự khu vực

- Tòa án quân sự khu vực có nhiệm vụ, quyền hạn:

  • Sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;
  • Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của luật.

- Tòa án quân sự khu vực có Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, công chức khác và người lao động.

- Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định thành lập và quy định nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy giúp việc trong Tòa án quân sự khu vực sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

5. Điểm mới trong BLTTHS 2015 về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (do Luật này đã hợp nhất, pháp điển các quy định của Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002 trước đây), Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được bổ sung Điều 272 quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự đối với: 

(1) Vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân; 

(2) Vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc đối tượng nêu trên nhưng liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ; 

(3) Tất cả tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết quân luật . 

Đồng thời, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung 01 điều luật (Điều 273) để phân định rõ thẩm quyền xét xử của Tòa án trong trường hợp vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân. Theo đó, trường hợp có thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự; Tòa án nhân dân xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân; trường hợp không thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án.

6. Ví dụ về xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

Ví dụ: Nguyễn Quốc K điều khiển xe ô tô tải rẽ phải đi vào đường nhánh, K đã không nhường đường cho xe mô tô biển kiểm soát 27D1-115.26 nên xảy ra va chạm, gây tai nạn. Hậu quả Hoàng Văn Q là quân nhân bị gãy xương bàn chân trái, tỷ lệ thương tích 31%; Đỗ Hữu M, không phải là quân nhân, bị chấn thương sọ não nặng được đưa đi cấp cứu và tử vong ngày 28-9-2019 tại Bệnh viện.

Với hậu quả đã gây ra, hành vi của K đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017”.

Qua nội dung vụ án, hiện việc xác định thẩm quyền xét xử vụ án này vẫn còn có hai nhóm ý kiến khác nhau, một nhóm cho rằng vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh K; một nhóm cho rằng vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực, quân khu H. Vậy, ý kiếm nào đúng?

Thứ nhất, vụ án này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân bởi lý do:

Một là, theo quy định tại khoản 1 Điều 272 BLTTHS về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì “1. Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử: 

a) Vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân. 

b) Vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ.”.

Trong khi đó việc Nguyễn Quốc K gây ra thiệt hại ngoài hậu quả làm Đỗ Hữu M chết do bị chấn thương sọ não nặng thì còn làm cho quân nhân Hoàng Văn Q bị gãy xương bàn chân trái, tỷ lệ thương tích 31%; tức là ở trong vụ án bị cáo Nguyễn Quốc K đã gây thiệt hại đến sức khỏe của quân nhân tại ngũ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 272 BLTTHS.

Hai là, theo quy định tại khoản 2 Điều 273 BLTTHS thì “2. Trường hợp không thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án”.  Đối với vụ án này việc gây thiệt hại đối với quân nhân Q không thể tách thành một vụ án khác được. Vì, nếu tách sẽ không đảm bảo việc giải quyết vụ án được khách quan, trọn vẹn. Theo quy định tại khoản Điều 170 BLTTHS thì “ 2. Cơ quan điều tra chỉ được tách vụ án trong trường hợp cần thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm và nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án” trong khi đó hành vi của Nguyễn Quốc K chỉ là một hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và gây ra thiệt hại đến sức khỏe của quân nhân Q và xâm phạm tính mạng của M chứ không phải là các hành vi độc lập có các cấu thành tội phạm khác nhau. Do vậy, vụ án này không thể tách ra để giải quyết thành các vụ án khác nhau của các Tòa án khác nhau.

Vì vậy, đối với quan điểm có nhận định cho rằng “việc gây thiệt hại đối với quân nhân M là một thiệt hại độc lập” quan điểm này là không chính xác. Bởi về lý luận khoa học luật hình sự không có khái niệm là “thiệt hại độc lập” mà chỉ có khái niệm là “hành vi độc lập” có cấu thành tội phạm độc lập. Bởi thiệt hại ở đây được hiểu là hậu quả do có mối quan hệ nhân quả đối với hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của bị cáo K. Một hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ có thể gây ra các hậu quả khác nhau mà cụ thể trong vụ án này đó là ngoài xâm phạm sức khỏe của quân nhân Q với tỷ lệ thương tật là 31% còn xâm phạm tính mạng của M với hậu quả làm M chết.

Do vậy, căn cứ theo các quy định tại điểm b khoản 1 Điều 272 và khoản 2 Điều 273 BLTTHS thì vụ án này thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

Thứ hai, căn cứ theo các quy định tại khoản 1 Điều 268 và Điều 269 BLTTHS thì vụ án trên thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự khu vực H Quân khu H.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)