1. Khái niệm trốn tránh nghĩa vụ quân sự
Trốn tránh nghĩa vụ quân sự là không chấp hành đúng những quy định về đăng kí nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện của những ngưỡi đang ở độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự.
2. Hậu quả của hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự
Trốn tránh nghĩa vụ quân sự là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lí hành chính, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ đặc biệt của công dân là nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, luật hình sự Việt Nam luôn coi hành vi này là tội phạm. Trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985, cơ sở pháp lí cho việc xét xứ tội này là Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981. Trong Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1998, tội này đều được quy định là tội phạm thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lí hành chính. Theo đó, tội phạm này đòi hỏi các dấu hiệu:
1) Chủ thể của tội này là người có nghĩa vụ quân sự (nghĩa vụ đăng kí nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ nhập ngũ, nghĩa vụ tập trung huấn luyện);
2) Chủ thể đã có hành vi không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng kí nghĩa vụ quân sự hoặc không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ hoặc không chấp hành lệnh gọi tập trung huấn luyện. Một số biểu hiện cụ thể của hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự như không có mặt đúng hạn theo giấy gọi nhập ngũ; trốn khỏi hơi cư trú khi có lệnh gọi nhập ngũ; tự gây thương tích để trốn tránh nghĩa vụ...,
3) Chủ thể đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
Hình phạt được quy định cho tội phạm này có mức tối đa là 5 năm tù.
2. Xử lý vi phạm đối với hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự
Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân. Thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội nhân dân ( khoản 1 Điều 4 Luật Nghĩa vụ quân sự). Trốn tránh nghĩa vụ quân sự là hành vi vi phạm pháp luật, tùy vào tính chất, mức độ, người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
3.1 Về xử phạt hành chính
Theo quy định của Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 09/10/2013 của Chính phủ, Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu, thì các hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt như sau:
“Điều 4. Vi phạm các quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự
1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi không đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu đối với công dân nam đủ 17 tuổi trong năm thuộc diện phải đăng ký nghĩa vụ quân sự.
2. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Không đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu, trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này;
b) Không đăng ký bổ sung khi có sự thay đổi về họ tên, địa chỉ nơi ở, nơi làm việc theo quy định;
c) Không thực hiện đăng ký di chuyển trước khi di chuyển nơi cư trú theo quy định;
d) Không thực hiện đăng ký vào ngạch dự bị theo quy định.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc đăng ký nghĩa vụ quân sự, đăng ký bổ sung, đăng ký di chuyển, đăng ký vào ngạch dự bị đối với hành vi quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này.
Điều 5. Vi phạm quy định sơ tuyển thực hiện nghĩa vụ quân sự
1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm tập trung sơ tuyển ghi trong giấy gọi sơ tuyển thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng.
2. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thực hiện sơ tuyển nghĩa vụ quân sự theo kế hoạch của Hội đồng nghĩa vụ quân sự đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này.
Điều 6. Vi phạm quy định về kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự
1. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm kiểm tra, khám sức khỏe ghi trong giấy gọi kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng.
2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:
a) Người khám sức khỏe gian dối làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của mình nhằm trốn tránh nghĩa vụ quân sự;
b) Đưa tiền hoặc các lợi ích vật chất khác cho cán bộ, nhân viên y tế để làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của người khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự;
c) Cán bộ, nhân viên y tế cố ý làm sai lệch các yếu tố về sức khỏe của người khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Điều 7. Vi phạm quy định về nhập ngũ
1. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.500.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm tập trung ghi trong lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng.
2. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc chấp hành lệnh gọi nhập ngũ đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này”.
3.2 Về xử lý hình sự
Người có hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 332, Điều 333 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:
“Điều 332. Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự
1. Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình;
b) Phạm tội trong thời chiến;
c) Lôi kéo người khác phạm tội.
Điều 333. Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ
1. Người nào là quân nhân dự bị mà không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ trong trường hợp có lệnh tổng động viên, lệnh động viên cục bộ, có chiến tranh hoặc có nhu cầu tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội để chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình;
b) Lôi kéo người khác phạm tội”.
3.3 Những bất cập, hạn chế của các quy định
Thứ nhất, quy định của tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự còn hạn chế về dấu hiệu định tội
Theo khoản 1 Điều 332 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự như sau: “Người nào không chấp hành đúng quy định pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”. Vậy cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự của tội phạm này, trước tiên người phạm tội hiệu bắt buộc phải có dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Điều đó có nghĩa là người nào đã vi phạm một trong ba hành vi được mô tả trong cấu thành cơ bản của tội này (về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện ) và đã bị xử lý hành chính hoặc hình sự và chưa được xóa án tích thì mới xem xét xử lý trong khung hình phạt này. Như là người đó đã vi phạm không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ thì lần sau đó người đó phải vi phạm đúng hành vi không chấp hành lệnh lệnh gọi nhập ngũ một lần nữa và hành vi trước chưa được xóa án tích thì mới bị xử phạt ở khoản 1 của Điều 332 Bộ luật Hình sự hiện hành. Nếu người phạm tội không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, chưa được xóa án tích nhưng vi phạm hành vi không chấp hành đúng quy định pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, lệnh gọi tập trung huấn luyện thì chỉ bị xử phạt hành chính chứ không thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này theo quy định của điều luật.
Việc quy định như trên còn tạo ra nhiều cách hiểu, vận dụng khác nhau tại nhiều địa phương. Có địa phương lại hiểu theo hướng chỉ cần một người đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì sẽ xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Điều đó có nghĩa là trước đó đã bị xử lý về một trong ba hành vi được mô tả trong cấu thành của tội phạm này mà không bắt buộc lần vi phạm thứ hai phải đúng như hành vi bị xử lý lần trước thì đã có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự. Nhưng có địa phương lại hiểu theo cách ngược lại, có nghĩa là nếu muốn xem xét trách nhiệm hình sự đối với tội này thì trước đó phải bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Hành vi này nghĩa là lần xử lý sau phải cùng hành vi với lần bị xử lý trước thì mới có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự về tội này.
Thứ hai, điều luật chưa mô tả đầy đủ khái niệm “trốn tránh nghĩa vụ quân sự” được quy định trong Luật nghĩa vụ quân sự.
Theo đó, quy định về xử lý hình sự đối với các trường hợp không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe mang tính chất tái phạm thiếu tính thống nhất giữa Bộ luật Hình sự 2015 và Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 dẫn đến ách tắc, không xử lý hình sự được.
Khoản 1 Điều 332 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữu đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”. Như vậy, đối chiếu với quy định mang tính liệt kê trên thì về mặt khách quan của tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự chỉ 03 hành vi độc lập, bao gồm: không đăng ký, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, không chấp hành lệnh gọi tập trung huấn luyện; hành vi không chấp hành lệnh khám sức khỏe chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 và được hiểu là độc lập với hành vi “không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự” như quy định tại Khoản 1 Điều 332 Bộ luật Hình sự.
Trong khi đó, tại Khoản 8 Điều 3 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định “Trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự là hành vi không chấp hành lệnh gọi đăng ký nghĩa vụ quân sự; lệnh gọi khám sức khoẻ nghĩa vụ quân sự; lệnh gọi nhập ngũ; lệnh gọi tập trung huấn luyện, diễn tập…”. Tại Nghị định số 13/2016/NĐ-CP ngày 19/2/2016 của Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục đăng ký, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự thì việc sau khi công dân đăng ký, Ban chủ huy quân sự cấp giấy chứng nhận đăng ký nghĩa vụ quân sự cho công dân; Chương 2 của Nghị định quy định về trình tự, thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự; tuy nhiên, việc gọi công dân khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự không được đề cập như một bước thủ tục, quy trình của sau việc đăng ký nghĩa vụ quân sự. Như vậy, việc gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự được thực hiện sau khi đăng ký nghĩa vụ quân sự; là bước trung gian, mang tính độc lập giữa đăng ký nghĩa vụ quân sự và gọi công dân nhập ngũ. Do đó, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự không được xem là tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.
Thứ ba, bất cập về tình tiết định tội “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”
Theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự hiện hành, trong một số trường hợp sẽ có một số đối tượng sẽ không được đăng ký nghĩa vụ quân sự, trong đó có trường hợp công dân “Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hình phạt tù, cải tạo không giam giữ, quản chế hoặc đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích” sẽ không được đăng ký nghĩa vụ quân sự.
Do đó, quy định tại Điều 332 Bộ luật Hình sự về tình tiết định tội “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” là chưa phù hợp với các quy định của Luật nghĩa vụ quân sự hiện hành. Một công dân muốn được hiện nghĩa vụ quân sự ngoài việc đáp ứng yêu cầu về độ tuổi, sức khỏe, trình độ học vấn…thì lý lịch chính trị cũng là một yêu cầu rất quan trọng trong việc tuyển chọn công dân lên đường nhập ngũ. Một công dân dù có đáp ứng đầy đủ các yếu tố khác và dù có tình nguyện để được phục vụ trong quân ngũ nhưng nếu không đảm bảo các điều kiện về lý lịch chính trị cũng sẽ không được đăng ký nghĩa vụ quân sự. Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ không có trường hợp một người đã bị kết án về tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì sẽ bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Bởi vì, căn cứ vào các điều kiện về chính trị được quy định trong Luật nghĩa vụ quân sự hiện hành thì sẽ không có trường hợp người một người phạm tội chưa được xóa án tích mà lại được gọi nhập ngũ. Và cho dù một người nào đó có được gọi nhập ngũ trong trường hợp này đi nữa thì nếu họ có vi phạm thì cũng không thể xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ bởi bản chất của việc gọi nhập ngũ trong trường hợp này đã sai từ cấp có thẩm quyền nên người được gọi nhập ngũ trong trường trường hợp này đương nhiên sẽ không bị coi là có hành vi vi phạm. Do đó, việc quy định như hiện hành là không cần thiết và không phù hợp với quy định của pháp luật chuyên ngành.
Thứ tư, chưa quy định rõ về tình tiết định khung tăng nặng “Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình” và tình tiết “Lôi kéo người khác phạm tội”
Để trốn tránh nghĩa vụ quân sự, người phạm tội có nhiều thủ đoạn khác nhau, trong đó có thủ đoạn tự gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của mình.
Việc người phạm tội tự gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của mình có thể được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau như: chặt đứt ngón trỏ của bàn tay phải, uống thuốc làm cho mắt giảm thị lực, uống thuốc làm tăng nhịp tim, huyết áp... Tuy điều luật lại không quy định việc tự gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của mình có tỷ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm (%) thì mới có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự ở tình tiết định khung tăng nặng này.
Ngoài ra, tại điểm c khoản 2 Điều 332 Bộ luật hình sự hiện hành có quy định tình tiết định khung tăng năng với hành vi “Lôi kéo người khác phạm tội”. Quy định trên có thể hiểu, trên cơ sở cấu thành tội phạm có đấu hiệu bắt buộc là người lôi kéo ở đây phải bị xử phạt và cấu thành tội phạm về hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự mà lôi kéo người khác phạm tội, người khác phạm tội ở đây phải thỏa điều điện phải bị xử phạt hình sự về tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự thì người phạm tội mới được áp dụng trong khung hình phạt tăng nặng tại điểm c khoản 2 Điều 332 của bộ luật hình sự hiện hành.
Nếu người bị lôi kéo phạm tội mà bị xử phạt ở hình thức xử phạt hành chính vì tội này thì người phạm tội lôi kéo không vi phạm vào điểm c khoản 2 Điều 332 Bộ luật hình sự hiện hành, vì người bị lôi kéo chỉ bị xử hành chính về tội này và không được xem là phạm tội nên không thể xem là hành vi “lôi kéo người khác phạm tội”.