Khách hàng: Chào Luật sư Minh Khuê. Luật sư cho tôi hỏi nội dung quản trị xã hội từ góc độ các nguyên lý hệ thống thế hệ thứ ba?

Cảm ơn Luật sư!

Trả lời:

1. Quản trị xã hội từ góc độ các nguyên lý hệ thống thế hệ thứ ba

Nhà khoa học quản lý Jamshid Gharajedaghi được xem là một người "hoàn hảo" về lý luận và thực tiễn. Ông khởi nghiệp tại Công ty Trung tâm thương mại thế giới của hãng IBM với chức danh Kỹ sư hệ thống cao cấp. Ông có nhiều năm làm Giám đốc Trung tâm Busch và Phó giáo sư môn Khoa học hệ thống tại Trường Wharton, Đại học Pennsylvania, là Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc điều hành Viện quản lý tương tác tại Hoa Kỳ.

Jamshid Gharajedaghi cung cấp cho các nhà tổ chức và quản lý, cho giới kinh doanh và đông đảo độc giả những kiến thức cần thiết về tư duy hệ thống, bao gồm triết học hệ thống, các lý thuyết hệ thống và phương pháp luận hệ thống, đồng thời trình bày những ứng dụng cụ thể các lý thuyết nói trên vào việc nghiên cứu và thiết kế một số dự án ở các công ty và các cơ quan chính phủ nhiêu nước, mà bản thân tác giả đã tham gia và có vai trò tư vấn chủ chốt.

2. Cuốn sách “Tư duy hệ thống thế hệ thứ ba”

Cuốn sách “Tư duy hệ thống thế hệ thứ ba” của Jamshid Gharajedaghi kết hợp lý thuyết hệ thống và thiết kế tương tác, cung cấp một phương pháp luận hoạt động để xác định vấn đề và thiết kế giải pháp trong một môi trường ngày càng đặc trưng bởi sự hỗn loạn và phức tạp.

Cuốn sách đề cập đến các cuộc khủng hoảng gần đây trong hệ thống tài chính và thị trường việc làm, bong bóng nhà đất và môi trường, đánh giá tác động của chúng đối với tư duy hệ thống. Một trang web đồng hành có sẵn tại tương tác với trang web. Khối lượng này lý tưởng cho các giám đốc điều hành cấp cao cũng như cho các giám đốc thông tin và các giám đốc điều hành khác chịu trách nhiệm quản lý hệ thống và cải tiến quy trình. Nó cũng có thể là một nguồn hữu ích cho sinh viên Công nghệ thông tin, MBA và học giả.

Cuốn sách này là kết quả trực tiếp của công việc của tác giả với phương pháp hệ thống được giới thiệu lần đầu tiên bởi đối tác của tác giả, Russell Ackoff. Đó là một cách tiếp cận toàn diện đối với phương pháp luận hệ thống. Nó đề cập đến tất cả các chiều của một hệ thống: cấu trúc, chức năng và quy trình. Peter Senge giới thiệu về Tư duy Hệ thống thực hành. Các khách hàng của Interact đã yêu cầu tác giả viết một cuốn sách để đưa họ "đi sâu hơn vào con đường mòn của Senge". Cuốn sách này thực hiện điều đó bằng cách đưa người đọc vào những câu chuyện "thế giới thực". Nó dựa trên kinh nghiệm ở năm công ty thực tế sử dụng hệ thống thực hành. Đó là về một phương thức mới để nhìn, làm và sống trong thế giới bằng cách suy nghĩ thông qua sự hỗn loạn và phức tạp. Nó nói lên những nhà tư tưởng và những người thực hành đã nhận ra rằng học "để trở thành" cũng là một phần cần thiết của một cuộc sống nghề nghiệp thành công cũng như học "để làm." Khoa học tự nhiên đã phát hiện ra "sự hỗn loạn". Khoa học xã hội đã gặp phải "sự phức tạp." Nhưng sự hỗn loạn và phức tạp là đặc điểm của nhận thức và hiểu biết của chúng ta. Chúng ta thấy thế giới ngày càng phức tạp và hỗn loạn hơn bởi vì chúng ta sử dụng những khái niệm không đầy đủ để giải thích nó. Khi chúng ta hiểu điều gì đó, chúng ta không còn thấy nó hỗn loạn hay phức tạp nữa mà sẽ cảm thấy như chơi trò chơi mới, cần học một ngôn ngữ mới. Một ngôn ngữ tương tác và thiết kế sẽ cho phép chúng ta nhìn thấu sự hỗn loạn và hiểu được sự phức tạp.

Tóm lại, cuốn sách này nói về hệ thống. Tuy nhiên, nó vượt ra ngoài tuyên bố đơn giản về tính mong muốn của tư duy hệ thống. Với định hướng thực tế nhưng lại có chiều sâu lý thuyết sâu sắc, cuốn sách cung cấp cách xử lý hoạt động nói chung bằng cách giới thiệu một sơ đồ phức tạp được gọi là thiết kế lặp lại. Thiết kế lặp lại công nhận rõ ràng rằng sự lựa chọn là trọng tâm của sự phát triển con người. Phát triển là năng lực lựa chọn; thiết kế là một phương tiện để nâng cao sự lựa chọn và tư duy tổng thể.

3. Đóng góp của Jamshid Gharajedaghi đối với lý thuyết hệ thống

Jamshid Gharajedaghi có đóng góp lớn trong nghiên cứu và phát triển lý thuyết hệ thống tổng quát trong quản lý phức hợp và hỗn độn. Theo Gharajedaghi, lý thuyết hệ thống đã phát triển qua giai đoạn hệ thống cơ học, hệ thống sinh học và đạt tới đỉnh cao là hệ thống xã hội. Theo cách tiếp cận lý thuyết hệ thống thế hệ thứ ba, xã hội cần được hiểu như là một hệ thống xã hội - đa trí tuệ. Hệ thống này vừa kế thừa tất cả các đặc trưng của hệ thống thế hệ thứ hai là hệ thống sinh học - đơn trí tuệ và hệ thống thế hệ thứ nhất là hệ thống cơ học - không trí tuệ, vừa phát triển các đặc trưng mới. Hệ thống xã hội đặc trưng bởi sự tương tác, phụ thuộc lẫn nhau, thích ứng, tự tổ chức, lựa chọn, chủ đích và nhiều đặc trưng khác của một hệ thống mở, cân bằng động và phân hóa với môi trường.

Từ các đặc trưng này Gharajedaghi lựa chọn và khái quát được năm nguyên lý hệ thống thế hệ thứ ba để vận dụng trong “quản lý hỗn độn và phức hợp”. Có thể coi quản trị xã hội là bội số, là tổng hòa các quản lý hỗn độn và phức hợp, khi đó cần tìm hiểu và vận dụng năm nguyên lý hệ thống thế hệ thứ ba mà Gharajedaghi đã nhấn mạnh. Đó là nguyên lý về tính mở, tính chủ đích, tính hợp trội, tính đa chiều cạnh và tính phản trực cảm của hệ thống. Vì đây là những nguyên lý hệ thống tổng quát, do vậy hoàn toàn có thể vận dụng vào thiết kế quản trị kinh doanh như Gharajedaghi đã làm và vận dụng trong nghiên cứu và phát triển quản trị xã hội trong trường hợp ở đây.

4. Nguyên lý mở

Nguyên lý mở cho biết xã hội với tính cách là hệ thống không khép kín mà luôn mở với môi trường xung quanh thông qua các đầu vào, đầu ra và các ứng xử của hệ thống với môi trường. Bertallanfy là tác giả đầu tiên của lý thuyết hệ thống tổng quát cho biết khác với hệ thống vô cơ là hệ thống đóng, hệ thống sinh học và hệ thống xã hội là hệ thống mở. Nhờ nguyên lý mở mà hệ thống trao đổi chất với môi trường và vận động, biến đổi, phát triển. Nguyên lý mở đòi hỏi quản trị xã hội với tính cách là một tiểu hệ thống luôn mở với các tiểu hệ thống thuộc môi trường bên trong, và đòi hỏi cả hệ thống phải mở với môi trường xung quanh để tìm kiếm các đầu vào và sản xuất các đầu ra. Vận dụng nguyên lý này có thể thấy quản trị xã hội ở Việt Nam không thể không tính đến cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tư trên thế giới.

5. Nguyên lý chủ định

Nguyên lý chủ định cho biết hệ thống xã hội luôn có mục đích và tìm mọi cách để đạt mục đích đặt ra. Hệ thống xã hội có chủ đích bởi vì con người có ý thức và hành động có chủ đích. Do vậy, quản trị xã hội có chức năng xác định mục đích của cả hệ thống xã hội và vạch ra chiến lược, hệ giá trị chuẩn mực, kế hoạch, chương trình hành động để đạt mục đích đó. Vấn đề đặt ra là quản trị xã hội phải lựa chọn và xác định mục đích ưu tiên và cam kết thực hiện mục đích trong điều kiện có hạn về các nguồn lực. Vấn đề này không chỉ liên quan đến việc phân biệt mục đích dài hạn, trung hạn và ngắn hạn mà còn liên quan đến việc làm rõ mục đích trên các chiều cạnh của ý nghĩa, tác động, kết quả và đầu ra của cả hệ thống xã hội và của từng bộ phận cấu thành trong mối tương tác phức tạp giữa hệ thống và môi trường.

Ví dụ, quản trị kinh tế chủ yếu nhằm mục đích tăng sản lượng, giảm chi phí, tăng thu nhập, tăng lợi nhuận, do vậy có thể sẵn sàng làm ô nhiễm, hủy hoại môi trường và làm tăng lợi ích của nhóm người này và làm giảm lợi ích của nhóm người khác. Khác với quản trị kinh tế, quản trị xã hội đòi hỏi quản trị kinh tế phải gắn với mục đích phát triển bao trùm, bền vững và phát triển con người, cụ thể ở ví dụ này là đồng thời khuyến khích làm giàu gắn với xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm trật tự xã hội, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

6. Nguyên lý đa chiều

Nguyên lý đa chiều cạnh cho biết hệ thống là sự phụ thuộc lẫn nhau của vô số các yếu tố với các chiều cạnh khác nhau thậm chí trái ngược nhau; là sự thống nhất của các mặt đối lập, là toàn thể các khả thi và các bất khả thi, là sự kết hợp của trật tự và hỗn loạn. Biểu hiện rõ nhất của tính đa chiều cạnh là tính đa chức năng, đa cấu trúc và đa quá trình của hệ thống xã hội, mà Bertalanffy gọi là nguyên lý “đẳng kết” (equifinality), đó là các quá trình khác nhau có thể đều dẫn đến những kết quả tương tự nhau. Vận dụng nguyên lý đa chiều cạnh trong quản trị xã hội đòi hỏi phải tính đến các mục đích khác nhau, các nguồn lực, các phương pháp, các biện pháp khác nhau đều có thể đạt được những mục đích nhất định. Khi đó quản trị xã hội cần hướng đến việc khuyến khích mọi người phát huy các thế mạnh khác nhau, các nguồn lực khác nhau để đạt các mục đích của họ mà không phương hại đến mục đích chung của cả cộng đồng xã hội. Ví dụ, quản trị xã hội giỏi có thể giúp mọi người nâng cao chất lượng cuộc sống nhờ phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa và liên tục đổi mới, sáng tạo. Theo nguyên lý này, quản trị xã hội giỏi không có nghĩa là làm mọi người đều giỏi làm một việc giống nhau, mà làm cho mỗi người giỏi một việc khác nhau, tạo nên các loại sản phẩm, các loại hàng hóa, các loại dịch vụ phong phú, đa dạng.

7. Nguyên lý hợp trội

Nguyên lý hợp trội cho biết hệ thống xã hội luôn có các đặc tính hợp trội với tính cách là những đặc tính của hệ thống được hình thành từ sự tương tác, kết hợp, phối hợp của các bộ phận cấu thành nên hệ thống. Sức mạnh của cả một hệ thống xã hội phụ thuộc vào sức mạnh của từng tiểu hệ thống và sức mạnh của sự hợp trội do các tiểu hệ thống tương tác, kết hợp, phối hợp với nhau tạo nên. Nguyên tắc này gợi ý cho quản trị một tổ chức, là không chỉ tập trung nâng cao trình độ học vấn hay chuyên môn kỹ thuật của từng thành viên mà còn phải nâng cao trình độ tương tác, hợp tác giữa các thành viên của tổ chức. Không ít cơ quan chuyên môn, ví dụ cơ quan khoa học không thiếu người tài giỏi, nhưng cơ quan đó hoạt động kém hiệu quả, thậm chí yếu kém vì thiếu cơ chế hợp tác, tương tác tích cực giữa các thành viên, nhưng lại thừa sự ghen ghét, đố kỵ, thừa sự thiếu tôn trọng lẫn nhau, “cá mè một lứa”, “dân chủ quá trớn”. Nguyên lý hợp trội cho biết các đặc điểm và tính chất của một hệ thống luôn là sự hợp trội các đặc điểm, tính chất của các yếu tố tương tác với nhau tạo nên hệ thống đó.

8. Nguyên lý phản trực cảm

Nguyên lý phản trực cảm (Counter-intuitiveness) cho biết hệ thống luôn chứa đựng các yếu tố bất ngờ, khó lường, “hỗn độn”, “bất định”, “tai biến”, quan hệ nhân - quả có thể bị gián đoạn trong không gian và thời gian, thậm chí có thể đổi chỗ cho nhau. Nguyên tắc hệ thống này gợi ý cho lãnh đạo, quản lý, ví dụ, khi phải hoạt động trong môi trường liên tục thay đổi thì không nên thích ứng thụ động, mà phải thích ứng tích cực, sáng tạo, thậm chí là cần phải thay đổi nhanh chóng, bất ngờ. Đặc biệt, cần phải nắm lấy quy luật, cái ổn định, cái cơ bản để ứng phó với vô số các hiện tượng riêng lẻ, luôn thay đổi; cần phải biết “dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn)