1. Phải làm gì khi bị lừa đảo qua mạng ?

Thưa luật sư, khi phát hiện hành vi lừa đảo qua mạng thì cần phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình ? Cảm ơn!

Trả lời:

Luật hình sự năm 2015 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông thường, và tội sử dụng mạng internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

Điều kiện với tội lừa đảo này là người phạm tội ngay từ đầu đã có ý định chiếm đoạt số tiền và có hành vi gian dối xảy ra trước hành vi chiếm đoạt. Nếu, việc chiếm đoạt tài sản thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê hoặc các hợp đồng thì áp dụng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:"

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

2. Tư vấn hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Em kính chào Luật sư. Em tên là H, Luật sư cho em hỏi là em có người anh trai mới cưới vợ được khoảng 10 ngày thì đột nhiên chị ấy mang tất cả vàng cưới của anh em đi hết.
Cha mẹ em xuống nhà gái tìm thì cũng không gặp chị ấy, điện thoại chị ấy không liên lạc được, 2 vợ chồng cũng không có cãi vã gì hết. Gia đình em đang nghi ngờ là chị ấy cố tình lừa gạt anh trai em để lấy số vàng cưới vì khi cưới nhau về chị ấy không chịu làm giấy đăng ký kết hôn. Luật sư cho em hỏi trường hợp như vậy mình có thưa kiện đươc không ạ (gia đình cả 2 bên không biết chị ấy đi đâu, mặc dù đã tìm rất nhiều nơi) ?

Trả lời:

Tuy nhiên, trong trường hợp này anh trai bạn và chị đó đã cưới nhưng không đăng ký kết hôn nên giữa hai người đó không được công nhận là vợ chồng và về mặt pháp lý họ không có ràng buộc gì về tài sản. Nên trong trường hợp chị ấy mang hết số vàng cưới của anh bạn đi là trái pháp luật. Căn cứ vào Điều 139 Bộ luật hình sự năm 2015; Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì hành vi của chị ấy cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cụ thể như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Do đó, bạn hoàn toàn có thể tố cáo và cung cấp đầy đủ các thông tin và chứng cứ cần thiết (nếu có) về vụ việc nói trên cho cơ quan công an. Bạn có thể viết một đơn tường trình hoặc khiếu kiện gửi đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án để họ thụ lý giải quyết.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?

3. Trả tiền vay quá thời hạn có phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Vào tháng 9 năm 2014 tôi có vay của bên tài chính A khoản tiền là 32 triệu. Nhưng đến tháng 3 do bị tai nạn xe cộ tôi chỉ đóng được 1 triệu thay vì số tiền phải đóng là 1.335.000 đồng Sau khi tai nạn tôi không đi làm được nên tôi chỉ đóng được 400.000 ngàn tháng tiếp theo.
Đến tháng 4 thì tôi đóng tháng đó đủ số tiền là 1.335.000 nhưng bên công ty tài chính báo do tôi trễ hạn nên thu hồi toàn bộ số tiền. 2 tháng nay công việc chưa ổn định tôi vẫn cố gắng đóng cho bên tài chính 400.000 mỗi tháng. Và cũng có nói về hoàn cảnh của tôi hiện tại. Tôi cũng nói cho tôi thêm thời gian 2 tháng tôi sẽ đóng lại như trong họp đồng. Nhưng bên công ty Tài Chính hiện giờ đòi đưa hồ sơ ra tòa kiện tôi với lí do lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thật sự tôi đang rất hoang mang vì tôi đã cố gắng hết khả năng của tôi. Tôi chỉ vay 32.000.000 đồng nhưng giờ bắt hoàn trả là 56.000.000 đồng trong một lần với tôi là không có khả năng.
Như vậy tôi có bị xem là chiếm đoạt tài sản hay lừa đảo không? Và hướng giải quyết hiện tại là như thế nào?

Trả lời:

Hợp đồng của bạn là hợp đồng vay có kỳ hạn giả tiền gốc và lãi theo từng tháng và theo thỏa thuận là bạn thanh toán cho bên A 1.335.000đồng/ tháng. Như vậy, lãi suất là 1335000 : 32 000 000 = 4,17%/tháng.

Căn cứ theo điều 465 và điều 470 Theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ vay và thực hiện hợp đồng vay có ký hạn.Nếu trong hợp đồng của bạn có thỏa thuận là bạn vi phạm hợp đồng không thanh toán đủ số tiền 1.335.000đồng/ tháng thì bên A mới có quyền yêu cầu bạn hoàn trả 1 lần số tiền 56.000.000 đồng. Và nếu hợp đồng không có thỏa thuận thì bên A không có quyền yêu cầu bạn hoàn trả 56.000.000 đồng trong một lần.

Theo quy định tại điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 :

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Bạn bị tai nạn và vẫn cố gắng trả khoản tiền 400.000 đồng cho bên A chứng tỏ Bạn không có hành vi gian dối và cũng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Như vậy hành vi của bạn không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

4. Bị lừa đảo chiếm tiền xin việc có đòi lại được không ?

Xin chào luật Minh Khuê! Tôi xin được hỏi luật sư một điều này: Tôi có một thằng em trai nó trót dại tin tưởng ông Trưởng phòng tổ chức một cơ quan Nhà nước sẽ nhận vào cơ quan làm việc với điều kiện phải lo tiền cho ông ấy 90 triệu đồng.

Sau đó ông ta không lo cho em tôi vào làm được và chỉ trả lại có 20 triệu đồng. Vì em của tôi nó bức xúc quá nên nó nhắn tin rất nhiều cho ông trưởng phòng tổ chức và nói rằng nếu ông ta không trả tiền hết thì nó sẽ tố cáo ông với pháp luật nhưng đến nay ông ta vẫn không chịu trả. Tôi xin hỏi luật sư trường hợp này giao dịch này có hiệu lực không và em tôi và ông kia sẽ bị tội gì?

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì em của bạn có nhờ ông trưởng phòng tổ chức( ông A) xin việc hộ và đã giao cho ông ấy số tiền là 90 triệu đồng, nhưng sau khi nhận tiền thì ông ấy không giúp được và mới trả lại có 20 triệu đồng, em bạn đã nhắn tin gọi điện nhiều lần nhưng ông ấy đều lảng tránh và không nghe máy.

1. Các yếu tố cấu thành tội đưa hối lộ là gì?

Đưa hối lộ là hành vi dùng tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc lợi ích phi vật chất trực tiếp hoặc qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn, hoặc người khác hoặc tổ chức khác để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
Khách thể của tội đưa hối lộ: Là xâm phạm sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức.
Mặt khách quan của tội đưa hối lộ: Là hành vi đưa hối lộ cho người có chức vụ quyền hạn.
– Một hành vi bị coi là hối lộ khi giá trị hối lộ từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc các loại giá trị phi vật chất khác (như tình dục, vị trí, việc làm,…). Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi đã loại bỏ tình tiết định tội “từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần”. Như vậy, theo Luật hình sự mới, mọi hành vi đưa của hối lộ có trị giá dưới 2.000.000 đồng bất luận gây hậu quả gì hoặc được thực hiện nhiều lần cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hối lộ.
– Hành vi ở đây được thể hiện dưới hình thức: đã đưa hoặc sẽ đưa trực tiếp hoặc qua trung gian. Như vậy, hành vi hối lộ cần phải được xác định trước hết bởi hai yếu tố: chủ thể “đưa của hối lộ” và “của hối lộ” của ai. Một điểm mới của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi so với Bộ luật hình sự năm 1999, đó là đã đưa ra định nghĩa cụ thể cho hành vi đưa hối lộ. Tuy nhiên, việc quy định hành vi hối lộ bao gồm cả hành vi “sẽ đưa” có thể sẽ gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố tội phạm liên quan đến xác định chứng cứ và thời điểm hoàn thành tội phạm này.
– Cũng cần phân biệt giữa hành vi đưa hối lộ với hành vi môi giới hối lộ.
Mặt chủ quan của tội phạm là lỗi cố ý trực tiếp.
– Nếu người đưa hối lộ đưa nhầm cho người không có chức vụ quyền hạn thì vẫn cấu thành tội đưa hối lộ, nếu người nhận biết đưa nhầm mình là người có chức vụ quyền hạn mà vẫn nhận của hối lộ thì người nhận sẽ bị xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
– Tội đưa hối lộ có động cơ vụ lợi. Mục đích là để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặ theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Tuy nhiên, động cơ không phải là dấu hiệu cấu thành bắt buộc của loại tội phạm này.

2. Các yếu tố cấu thành tội nhận hối lộ là gì?

Nhận hối lộ được hiểu là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận bất kì lợi ích nào do Bộ luật hình sự quy định dưới bất kì hình thức nào cho mình hoặc cho người, tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
Các yếu tố cấu thành tội nhận hối lộ
Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội nhận hối lộ có các dấu hiệu sau đây:
Về hành vi: – Có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Được hiểu là sử dụng chức vụ, quyền hạn như một phương tiện để thực hiện tội phạm.
– Có hành vi đã nhận hoặc sẽ nhận (nghĩa là tuy nhận nhưng có việc hứa hẹn, thỏa thuận trước việc nhận), tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất, phi vật chất khác dưới bất kì hình thức nào (như tiền, vàng, xe gắn máy, quà biếu…).
Việc nhận tiền, tài sản… có thể được thực hiện trực tiếp giữa người nhận hối lộ và người đưa hối lộ nhưng cũng có thể qua trung gian (như qua người môi giới, qua bưu điện…).
Việc nhận tiền, tài sản hoặc các lợi ích đó có thể là cho chính người đó nhưng cũng có thể cho người khác hoặc tổ chức khác.
Lưu ý: Các hành vi nêu trên phải gắn liền với nhau và với điều kiện là:
– Để làm một việc (hành động) vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ (ví dụ: Cán bộ phòng quản lí đô thị nhận hối lộ rồi tiến hành cấp giấy phép xây dựng nhanh hơn…).
– Hoặc để không làm một việc (không hành động) vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ (ví dụ: Cán bộ hải quan nhận hối lộ rồi bỏ qua không lập thủ tục xử phạt người vi phạm hành chính về hải quan…).
– Đối với trường hợp người có chức vụ, quyền hạn chủ động đòi hối lộ, thì tội phạm được coi là hoàn thành tính từ thời điểm người phạm tội tỏ rõ thái độ đòi hối lộ và người đưa hối lộ chấp nhận sự đòi hỏi đó. Trường hợp một trong hai bên tỏ thái độ hoặc đưa ra đề nghị đưa hối lộ nhưng một trong hai bên không chấp nhận (từ chối) thì không cấu thành tội nhận hối lộ vì hai bên vẫn chưa có sự thỏa thuận xong về việc đưa và nhận hối lộ.
Dấu hiệu khác. Có một trong các dấu hiệu sau đây: – Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lí kỉ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

5. Tư vấn về việc mua bán điện thoại bị tố cáo tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Kính chào Luật Minh Khuê Tôi có thỏa thuận mua bán với 1 bán khác 1 chiếc điện thoại với hình thức COD 2.050.000 VND (50k phí vận chuyển). Do sơ xuất trong quá trình đóng gói nên tôi đã gửi nhầm chiếc điện thoại khác giá cả tương đương hoạt động bình thường.

Tuy nhiên khi bên nhận lấy được hàng thì báo lại là hàng không đúng và yêu cầu tôi trả lại tiền. Tôi chấp nhận yêu cầu trả lại tiền và yêu cầu bạn kia trả lại hàng cho tôi. Nhưng lúc đó tôi không có tiền và bảo để nhận lại tiền COD và gửi sau nhưng bên kia không chịu và đòi viết đơn tố cáo tôi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (tôi chưa nhận tiền COD) và dùng số điện thoại rác giả dạng công an hù dọa tôi.

Vì tôi không muốn liên quan đến pháp luật nên tôi đã mượn tiền và trả trước cho bạn ấy. Nhưng bạn ấy vẫn viết đơn và lên mạng rêu rao. Sau khi nhận được tiền thì bạn ấy bảo không rút được đơn ra khỏi chỗ công an và phải mất 1 thùng bia (có ghi âm cuộc gọi) cho công an mà vẫn không lấy được điện thoại ra. Và bảo điện thoại hư lấy làm gì trong khi điện thoại tôi gửi vẫn hoạt động bình thường. Hành vi của tôi có cho là lừa đảo chiếm đoạt tài sản không vì tôi chưa cầm được bất kỳ khoản tiền nào từ bên người mua. Và sản phẩm tôi bán giá trị tương đương với sản phảm đã rao.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Yêu cầu thứ nhất: Hành vi của bạn có cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không?

Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định như sau:

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:"

Theo đó, để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, một người phải có hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Cụ thể hành vi này được thể hiện dưới dạng như sau:

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Phân tích vào trường hợp của bạn, dựa trên những tình tiết mà bạn cung cấp, bạn có hành vi gửi nhầm hàng những ngay sau đó, bạn đã hoàn trả lại tiền cho bên kia và không quan trọng, hành vi của bạn không có thủ đoạn gian dối cũng như không có mục đích chiếm đoạt tài sản mà chỉ là do nhầm lẫn thì hành vi của bạn không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự 1999 như đã phân tích ở trên.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Mọi vướng mắc về pháp luật hình sự, Quý khách hàng có thể trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn cụ thể và chi tiết từng trường hợp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?