1. Phải làm gì khi bị lừa đảo qua mạng ?

Thưa luật sư, khi phát hiện hành vi lừa đảo qua mạng thì cần phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình ? Cảm ơn!

Trả lời:

Luật hình sự năm 1999 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009); Luật hình sự năm 2015 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông thường, và tội sử dụng mạng internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như sau:

1. Theo luật hình sự 2009 khoản 29, Điều 1 sửa đổi bổ sung điều 226: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

- Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện một trong những hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm

+ Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;

+ Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;

+ Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

+ Hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

- Bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm nếu thuộc trường hợp sau:

+ Có tổ chức;

+ Phạm tội nhiều lần;

+ Có tính chất chuyên nghiệp;

+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

+ Gây hậu quả nghiêm trọng;

+ Tái phạm nguy hiểm.

- Bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm nếu thuộc trường hợp sau:

+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

+ Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

+ Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

- . Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Như vậy, để xác định yếu tố cấu thành với tội này, thì người phạm tội phải có đủ 2 hành vi :

- Sử dụng sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số

- Thực hiện các thủ đoạn nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác trái pháp luật.

Nếu người phạm tội không sử dụng mạng máy tính, viễn thông, internet hay thiết bị số mà có hành vi chiếm đoạt tài sản trái pháp luật thì sẽ áp dụng theo điều 139, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 140 như sau:

2. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Điều 139 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Điều kiện với tội lừa đảo này là người phạm tội ngay từ đầu đã có ý định chiếm đoạt số tiền và có hành vi gian dối xảy ra trước hành vi chiếm đoạt. Nếu, việc chiếm đoạt tài sản thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê hoặc các hợp đồng thì áp dụng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

Cá nhân, tổ chức bị chiếm đoạt tài sản có thể thực hiện tố cáo tội phạm đến cơ quan điều tra để khởi tố hình sự theo Điều 100 BLTTHS năm 2003 quy định:

"Điều 100. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:

1. Tố giác của công dân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức;

3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;

5. Người phạm tội tự thú"

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự với tội lừa đảo

- Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;

- Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

- Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày bị chiếm đoạt tài sản.

Theo đó,

- Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt là đến ba năm tù;

- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt là đến bảy năm tù; - - Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù;

- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

4. Thời hạn điều tra

- Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng,

- Không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

Với tội có tình tiết phức tạp thì có thể xin gia hạn điều tra.Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

- Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá hai tháng;

- Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng và lần thứ hai không quá hai tháng;

- Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá bốn tháng;

- Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về tội lừa đảo. Các bạn có thể dựa vào nội dung trên để trả lời câu hỏi của mình. Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

2. Tư vấn hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Em kính chào Luật sư! Luật sư có thể tư vấn giúp em vấn đề này không ạ. Em tên là H, Luật sư cho em hỏi là em có người anh trai mới cưới vợ được khoảng 10 ngày thì đột nhiên chị ấy mang tất cả vàng cưới của anh em đi hết.
Cha mẹ em xuống nhà gái tìm thì cũng không gặp chị ấy, điện thoại chị ấy không liên lạc được, 2 vợ chồng cũng không có cãi vã gì hết. Gia đình em đang nghi ngờ là chị ấy cố tình lừa gạt anh trai em để lấy số vàng cưới vì khi cưới nhau về chị ấy không chịu làm giấy đăng ký kết hôn. Luật sư cho em hỏi trường hợp như vậy mình có thưa kiện đươc không ạ (gia đình cả 2 bên không biết chị ấy đi đâu, mặc dù đã tìm rất nhiều nơi) ?
Em mong thư trả lời sớm của Luật sư. Xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: H.T.K

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định:

"Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng".

Tuy nhiên, trong trường hợp này anh trai bạn và chị đó đã cưới nhưng không đăng ký kết hôn nên giữa hai người đó không được công nhận là vợ chồng và về mặt pháp lý họ không có ràng buộc gì về tài sản. Nên trong trường hợp chị ấy mang hết số vàng cưới của anh bạn đi là trái pháp luật. Căn cứ vào Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999; Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì hành vi của chị ấy cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cụ thể như sau:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Do đó, bạn hoàn toàn có thể tố cáo và cung cấp đầy đủ các thông tin và chứng cứ cần thiết (nếu có) về vụ việc nói trên cho cơ quan công an. Bạn có thể viết một đơn tường trình hoặc khiếu kiện gửi đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án để họ thụ lý giải quyết.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Trả tiền vay quá thời hạn có phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Vào tháng 9 năm 2014 tôi có vay của bên tài chính A khoản tiền là 32 triệu. Sau khi vay mỗi tháng tôi vẫn thanh toán đúng hợp đồng. Nhưng đến tháng 3 do bị tai nạn xe cộ tôi chỉ đóng được 1 triệu thay vì số tiền phải đóng là 1.335.000 đồng Sau khi tai nạn tôi không đi làm được nên tôi chỉ đóng được 400.000 ngàn tháng tiếp theo.
Đến tháng 4 thì tôi đóng tháng đó đủ số tiền là 1.335.000 nhưng bên công ty tài chính báo do tôi trễ hạn nên thu hồi toàn bộ số tiền. 2 tháng nay công việc chưa ổn định tôi vẫn cố gắng đóng cho bên tài chính 400.000 mỗi tháng. Và cũng có nói về hoàn cảnh của tôi hiện tại. Tôi cũng nói cho tôi thêm thời gian 2 tháng tôi sẽ đóng lại như trong họp đồng. Nhưng bên công ty Tài Chính hiện giờ đòi đưa hồ sơ ra tòa kiện tôi với lí do lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thật sự tôi đang rất hoang mang vì tôi đã cố gắng hết khả năng của tôi. Tôi chỉ vay 32.000.000 đồng nhưng giờ bắt hoàn trả là 56.000.000 đồng trong một lần với tôi là không có khả năng.
Như vậy tôi có bị xem là chiếm đoạt tài sản hay lừa đảo không? Và hướng giải quyết hiện tại là như thế nào?
Kính mong phía luật sư giải đáp thắc mắc giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Người gửi: D.L

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.0159

Trả lời:

Hợp đồng của bạn là hợp đồng vay có kỳ hạn giả tiền gốc và lãi theo từng tháng và theo thỏa thuận là bạn thanh toán cho bên A 1.335.000đồng/ tháng. Như vậy, lãi suất là 1335000 : 32 000 000 = 4,17%/tháng.

Theo quy định tại khoản 3 điều 473 và điều 478 Bộ luật dân sự năm 2005

Điều 473. Nghĩa vụ của bên cho vay

3. Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 478 của Bộ luật này.

Điều 478. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý.

2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, nếu không có thoả thuận khác.

Nếu trong hợp đồng của bạn có thỏa thuận là bạn vi phạm hợp đồng không thanh toán đủ số tiền 1.335.000đồng/ tháng thì bên A mới có quyền yêu cầu bạn hoàn trả 1 lần số tiền 56.000.000 đồng. Và nếu hợp đồng không có thỏa thuận thì bên A không có quyền yêu cầu bạn hoàn trả 56.000.000 đồng trong một lần.

Theo quy định tại điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 :

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Bạn bị tai nạn và vẫn cố gắng trả khoản tiền 400.000 đồng cho bên A chứng tỏ Bạn không có hành vi gian dối và cũng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Như vậy hành vi của bạn không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Theo khoản 5 điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Do mức lãi suất bạn đang vay bên tài chính là 4,17%/tháng, cao gấp 3,34 lần so với mức lãi suất tối đa mà bên cho vay có thể được áp dụng (hiện nay lãi suất ngân hàng Nhà nước là 9%/năm, do đó mức lãi suất tối đa cho vay là 9 x 1,5 = 13,5%/năm, tương ứng là 1,125%/tháng). Do đó, đây là mức lãi suất không phù hợp, nên bạn và bên cho vay phải điều chỉnh lãi theo khoản 5 điều 474 Bộ luật dân sự 2005, theo đó mức lãi suất tối đa cho vay là 1,125%/tháng.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.0159.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

4. Bị lừa đảo chiếm tiền xin việc có đòi lại được không ?

Xin chào luật Minh Khuê! Tôi xin được hỏi luật sư một điều này: Tôi có một thằng em trai nó trót dại tin tưởng ông Trưởng phòng tổ chức một cơ quan Nhà nước sẽ nhận vào cơ quan làm việc với điều kiện phải lo tiền cho ông ấy 90 triệu đồng.

Tuy nhiên, sau đó ông ta không lo cho em tôi vào làm được và chỉ trả lại có 20 triệu đồng. Em tôi tiếp tục đòi nhưng ông ta không chịu trả. Vì em của tôi nó bức xúc quá nên nó nhắn tin rất nhiều cho ông trưởng phòng tổ chức và nói rằng nếu ông ta không trả tiền hết thì nó sẽ tố cáo ông với pháp luật nhưng đến nay ông ta vẫn không chịu trả. Tôi xin hỏi luật sư trường hợp này giao dịch này có hiệu lực không và em tôi và ông kia sẽ bị tội gì?

Em xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì em của bạn có nhờ ông trưởng phòng tổ chức( ông A) xin việc hộ và đã giao cho ông ấy số tiền là 90 triệu đồng, nhưng sau khi nhận tiền thì ông ấy không giúp được và mới trả lại có 20 triệu đồng, em bạn đã nhắn tin gọi điện nhiều lần nhưng ông ấy đều lảng tránh và không nghe máy.

1. Các yếu tố cấu thành tội đưa hối lộ là gì?

Đưa hối lộ là hành vi dùng tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc lợi ích phi vật chất trực tiếp hoặc qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn, hoặc người khác hoặc tổ chức khác để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
Khách thể của tội đưa hối lộ: Là xâm phạm sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức.
Mặt khách quan của tội đưa hối lộ: Là hành vi đưa hối lộ cho người có chức vụ quyền hạn.
– Một hành vi bị coi là hối lộ khi giá trị hối lộ từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc các loại giá trị phi vật chất khác (như tình dục, vị trí, việc làm,…). Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi đã loại bỏ tình tiết định tội “từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần”. Như vậy, theo Luật hình sự mới, mọi hành vi đưa của hối lộ có trị giá dưới 2.000.000 đồng bất luận gây hậu quả gì hoặc được thực hiện nhiều lần cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hối lộ.
– Hành vi ở đây được thể hiện dưới hình thức: đã đưa hoặc sẽ đưa trực tiếp hoặc qua trung gian. Như vậy, hành vi hối lộ cần phải được xác định trước hết bởi hai yếu tố: chủ thể “đưa của hối lộ” và “của hối lộ” của ai. Một điểm mới của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi so với Bộ luật hình sự năm 1999, đó là đã đưa ra định nghĩa cụ thể cho hành vi đưa hối lộ. Tuy nhiên, việc quy định hành vi hối lộ bao gồm cả hành vi “sẽ đưa” có thể sẽ gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố tội phạm liên quan đến xác định chứng cứ và thời điểm hoàn thành tội phạm này.
– Cũng cần phân biệt giữa hành vi đưa hối lộ với hành vi môi giới hối lộ.
Mặt chủ quan của tội phạm là lỗi cố ý trực tiếp.
– Nếu người đưa hối lộ đưa nhầm cho người không có chức vụ quyền hạn thì vẫn cấu thành tội đưa hối lộ, nếu người nhận biết đưa nhầm mình là người có chức vụ quyền hạn mà vẫn nhận của hối lộ thì người nhận sẽ bị xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
– Tội đưa hối lộ có động cơ vụ lợi. Mục đích là để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặ theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Tuy nhiên, động cơ không phải là dấu hiệu cấu thành bắt buộc của loại tội phạm này.
Tình tiết tăng nặng
+ Có tổ chức;
+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
+ Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
+ Phạm tội 02 lần trở lên;
+ Của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng trở lên.
Các dấu hiệu về chủ thể của tội đưa hối lộ: Bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm chịu trách nhiệm hình sự và đến một độ tuổi theo quy định của Bộ luật hình sự thì đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này.

2. Các yếu tố cấu thành tội nhận hối lộ là gì?

Nhận hối lộ được hiểu là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận bất kì lợi ích nào do Bộ luật hình sự quy định dưới bất kì hình thức nào cho mình hoặc cho người, tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
Các yếu tố cấu thành tội nhận hối lộ
Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội nhận hối lộ có các dấu hiệu sau đây:
Về hành vi: – Có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Được hiểu là sử dụng chức vụ, quyền hạn như một phương tiện để thực hiện tội phạm.
– Có hành vi đã nhận hoặc sẽ nhận (nghĩa là tuy nhận nhưng có việc hứa hẹn, thỏa thuận trước việc nhận), tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất, phi vật chất khác dưới bất kì hình thức nào (như tiền, vàng, xe gắn máy, quà biếu…).
Việc nhận tiền, tài sản… có thể được thực hiện trực tiếp giữa người nhận hối lộ và người đưa hối lộ nhưng cũng có thể qua trung gian (như qua người môi giới, qua bưu điện…).
Việc nhận tiền, tài sản hoặc các lợi ích đó có thể là cho chính người đó nhưng cũng có thể cho người khác hoặc tổ chức khác.
Lưu ý: Các hành vi nêu trên phải gắn liền với nhau và với điều kiện là:
– Để làm một việc (hành động) vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ (ví dụ: Cán bộ phòng quản lí đô thị nhận hối lộ rồi tiến hành cấp giấy phép xây dựng nhanh hơn…).
– Hoặc để không làm một việc (không hành động) vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ (ví dụ: Cán bộ hải quan nhận hối lộ rồi bỏ qua không lập thủ tục xử phạt người vi phạm hành chính về hải quan…).
– Đối với trường hợp người có chức vụ, quyền hạn chủ động đòi hối lộ, thì tội phạm được coi là hoàn thành tính từ thời điểm người phạm tội tỏ rõ thái độ đòi hối lộ và người đưa hối lộ chấp nhận sự đòi hỏi đó. Trường hợp một trong hai bên tỏ thái độ hoặc đưa ra đề nghị đưa hối lộ nhưng một trong hai bên không chấp nhận (từ chối) thì không cấu thành tội nhận hối lộ vì hai bên vẫn chưa có sự thỏa thuận xong về việc đưa và nhận hối lộ.
Dấu hiệu khác. Có một trong các dấu hiệu sau đây: – Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lí kỉ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
– Lợi ích phi vật chất.
Khách thể: Hành vi phạm tội xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức khinh tế của nhà nước hoặc tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước.
Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi cố ý và với động cơ vu lợi.: Chủ thể
Chủ thể của tội này có hai nhóm, cụ thể là:
Chủ thể của tội nhận hối lộ là người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị của nhà nước. Là người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước.

3. Giao dịch dân sự vô hiệu khi nào ?

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
=> Vì vậy, hay nói các khác giao dịch dân sự này bị vô hiệu do trái quy định của pháp luật..
Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

5. Tư vấn về việc mua bán điện thoại bị tố cáo tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi có thỏa thuận mua bán với 1 bán khác 1 chiếc điện thoại với hình thức COD 2.050.000 VND (50k phí vận chuyển). Do sơ xuất trong quá trình đóng gói nên tôi đã gửi nhầm chiếc điện thoại khác giá cả tương đương hoạt động bình thường.

Tuy nhiên khi bên nhận lấy được hàng thì báo lại là hàng không đúng và yêu cầu tôi trả lại tiền. Tôi chấp nhận yêu cầu trả lại tiền và yêu cầu bạn kia trả lại hàng cho tôi. Nhưng lúc đó tôi không có tiền và bảo để nhận lại tiền COD và gửi sau nhưng bên kia không chịu và đòi viết đơn tố cáo tôi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (tôi chưa nhận tiền COD) và dùng số điện thoại rác giả dạng công an hù dọa tôi.

Vì tôi không muốn liên quan đến pháp luật nên tôi đã mượn tiền và trả trước cho bạn ấy. Nhưng bạn ấy vẫn viết đơn và lên mạng rêu rao. Sau khi nhận được tiền thì bạn ấy bảo không rút được đơn ra khỏi chỗ công an và phải mất 1 thùng bia (có ghi âm cuộc gọi) cho công an mà vẫn không lấy được điện thoại ra. Và bảo điện thoại hư lấy làm gì trong khi điện thoại tôi gửi vẫn hoạt động bình thường.

Xin hỏi quý công ty là:

1. Hành vi của tôi có cho là lừa đảo chiếm đoạt tài sản không vì tôi chưa cầm được bất kỳ khoản tiền nào từ bên người mua. Và sản phẩm tôi bán giá trị tương đương với sản phảm đã rao.

2. Và nếu như bên kia viết đơn tố cáo tôi và xin rút đơn lại thì hồ sơ của tôi có bị lưu trong lý lịch không ?

3. Và bên phía công an có được giữ lại hàng hóa nữa không ? Nếu bên người mua không trả lại sản phẩm cho tôi thì tôi có được phép tố cáo hành vi chiếm đoạt tài sản không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.B

>> Luật sư tư vấn hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, gọi: 1900.0159

Trả lời:

1. Yêu cầu thứ nhất: Hành vi của bạn có cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không?

Theo quy định của Bộ luật hình sự 1999 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009); Bộ luật hình sự năm 2015, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Theo đó, để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, một người phải có hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Cụ thể hành vi này được thể hiện dưới dạng như sau:

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Phân tích vào trường hợp của bạn, dựa trên những tình tiết mà bạn cung cấp, bạn có hành vi gửi nhầm hàng những ngay sau đó, bạn đã hoàn trả lại tiền cho bên kia và không quan trọng, hành vi của bạn không có thủ đoạn gian dối cũng như không có mục đích chiếm đoạt tài sản mà chỉ là do nhầm lẫn thì hành vi của bạn không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự 1999 như đã phân tích ở trên.

2. Yêu cầu thứ hai: nếu như bên kia viết đơn tố cáo bạn và xin rút đơn lại thì hồ sơ của bạn có bị lưu trong lý lịch không? Theo quy định của Bộ luật Hình sự 1999 thì một người chỉ bị coi là có án tích sau khi đã có bản án của tòa án kết luận bạn có hành vi phạm tội. Trường hợp của bạn, người kia đã có đơn tố cáo tuy nhiên, để có thể khởi tố, truy tố, xét xử và ra bản án với bạn, cơ quan điều tra phải tiến hành điều tra xác minh theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 :

"Điều 86. Nhiệm vụ giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm.

Trong thời hạn không quá hai mươi ngày kể từ khi nhận được tố giác hoặc tin báo, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác hoặc tin báo có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng."

Do đó, khi có tin báo về trường hợp của bạn, cơ quan điều tra sẽ tiến hành xác minh, xử lý thông tin với trường hợp của bạn. Nếu bạn không có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như chúng tôi đã phân tích ở trên thì cơ quan điều tra nếu đã thụ lý đơn tố cáo của người kia thì họ sẽ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Khi bạn chưa có hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể ở đây là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì cơ quan điều tra sẽ không ghi vào lý lịch tư pháp của bạn.

3. Yêu cầu thứ ba: bên phía công an có được giữ lại hàng hóa nữa không ? Nếu bên người mua không trả lại sản phẩm cho bạn thì bạn có được phép tố cáo hành vi chiếm đoạt tài sản không ?

Sau khi xác minh bạn không có hành vi vi phạm pháp luật như chúng tôi đã phân tích ở trên, cơ quan điều tra sẽ ra quyết định không khởi tố vụ án và tiến hành trả lại tài sản cho bạn vì tài sản này vốn thuộc quyền sở hữu của bạn và không có liên quan đến việc xử lý vụ án.

Nếu bên kia họ vẫn không trả lại tài sản cho bạn thì bạn có thể yêu cầu trả lại tài sản này cho bạn với yêu cầu là bạn phải hoàn trả lại tiền cho bên mua. Nếu việc bạn giao nhầm hàng cho họ dẫn đến những thiệt hại vật chất cho người mua thì bạn có thể phải bồi thường với những thiệt hại đó theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu bên mau không trả lại hàng cho bạn thì bạn có thể khởi kiện ra tòa án nhân dân cấp quận nơi cư trú, làm việc nơi cư trú của bên mua.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Mọi vướng mắc về pháp luật hình sự, Quý khách hàng có thể trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159 để nhận được sự tư vấn cụ thể và chi tiết từng trường hợp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?