STT Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản Tội sử dụng trái phép tài sản

1.Nội dung

Điều 172. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giả từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000. óoo đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xẩu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phưong tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
b) Hành hung để tẩu thoát;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ;
đ) (được bãi bỏ)
3. Phạm tội thuộc một trong các trường họp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) (được bãi bỏ)
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) (được bãi bỏ)
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tĩnh trạng khẩn cẩp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Điều 177. Tội sử dụng trái phép tài sản
1. Người nào vĩ vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, đã bị xử lỷ kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chỉnh về hành vỉ này hoặc đã bị kêt án vê tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc dưới 500.000.000 đông nhưng tài sản là di vật, cố vật nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 219 và Điều 220 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Tài sản trị giá từ500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
b) Tài sản là bảo vật quốc gia;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội sử dụng trái phép tài sản trị giá 1.500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đổng, cẩm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
 
 
 

2.Hành vi

Điều luật không mô tả hành vi khách quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử thừa nhận hành vi khách quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi lợi dụng chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản công khai chiếm đoạt tài sản của họ. Theo đó, dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi chiếm đoạt tài sản như ở tội cướp giật tài sản. Dấu hiệu phân biệt hành vi chiếm đoạt ở tội công nhiên chiếm đoạt tài sản với tội cưóp giật tài sản cũng như với một số tội phạm khác là các đặc điểm sau của hành vi chiếm đoạt:
- Hành vi chiếm đoạt tài sản có tính công khai như ở hành vi cướp giật; (nhưng)
- Hành vi này xảy ra trong hoàn cảnh người chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản. Do vậy, người phạm tội không cần và không có ý định sử dụng thủ đoạn nào khác để đối phó với chủ tài sản. Người phạm tội không dùng vũ lực, không đe dọa dùng vũ lực, không uy hiếp tinh thần cũng như không nhanh chóng chiếm đoạt và nhanh chóng lẩn tránh.
- Dấu hiệu phân biệt tội công nhiên chiếm đoạt tài sản với hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản chỉ là vỉ phạm
Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản khi thoả mãn một trong các dấu hiệu sau:
- Tài sản chiếm đoạt trị giá từ 02 triệu đồng trở lên;
- Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, có thể là hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản hoặc hành vi trộm cắp tài sản hoặc hành vi chiếm đoạt khác (về dấu hiệu này, xem thêm bình luận Điểu 134 BLHS);
- Đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản (được quy định tại một trong các điều 168, 169, 170, 173, 174, 175) hoặc về tội được quy định tại Điều 290 (các hành vi chiếm đoạt có sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử) và chưa được xoá án tích (về dấu hiệu này, xem thêm bình luận Điều 134 BLHS);
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội (gây ra tâm lý lo lắng trong dân cư về an ninh, trật tự, an toàn xã hội).
- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ (như xe máy dùng để chở khách và tiền thu được từ việc chở khách là khoản thu chính của gia đình).
Hành vi phạm tội của tội này được quy định là hành vi sử dụng trái phép tài sản. Trong đó, hành vi sử dụng được hiểu là hành vi khai thác giá trị sử dụng của tài sản nhưng không làm cho chủ tài sản mất hẳn tài sản. Tính trái phép của hành vi sử dụng thể hiện ở chỗ: Người phạm tội tự ý sử dụng tài sản của người khác như tự ý lái ô tô của người khác đi chở hàng thuê, sau đó lại trả về chỗ cũ hoặc người phạm tội sử dụng tài sản thuộc phạm vi quản lý của mình không đúng quy định như thuyền trưởng dùng tàu của xí nghiệp đi chở thuê lấy tiền cho cá nhân...
Ở đây cần chú ý phân biệt hành vi sử dụng trái phép với hành vi chiếm đoạt. Chỉ coi là sử dụng trái phép nếu hành vi chỉ nhằm khai thác giá trị sử dụng của tài sản trong thời gian nhất định và do vậy chỉ làm cho chủ tài sản mất khả năng chiếm hữu, sử dụng trong khoảng thời gian đó. Sau thời gian này, chủ tài sản sẽ có lại tài sản của mình. Từ cơ sở lý thuyết như vậy thực tiễn xét xử chỉ coi trường họp sử dụng xe ô tô của cơ quan, xí nghiệp đi chở hàng thuê là hành vi sử dụng trái phép nếu sau khi sử dụng trả lại chỗ cũ. Còn trong trường họp cũng chỉ sử dụng nhưng sau khi sử dụng đã vứt bỏ xe ở nơi xa nào đó thì hành vi đã thực hiện không được coi là sử dụng trái phép mà là hành vi trộm cắp tài sản.
Do tính chất của hành vi sử dụng nên đối tượng của tội phạm này là những tài sản mà việc sử dụng không làm cho tài sản bị mất đi và có thể đem lại cho người sử dụng những lợi ích vật chất nhất định. Những tài sản đó có thể là phương tiện vận chuyển cơ giới (ô tô, tàu thủy,...), nhà cửa, đất đai cũng như các thiết bị máy móc khác... Tiền cũng có thể là đối tượng của tội phạm này. Nhưng do đặc điểm của hành vi sử dụng trái phép cũng như do tình trạng “mượn tiền quỹ” trái phép còn tương đối phổ biến và có nhiều trường hợp nghiêm trọng cho nên tiền chỉ được coi là đối tượng của tội sử dụng trái phép tài sản trong một số ít trường hợp. Những trường hợp đó trước hết phải là những trường họp có chứng cứ rõ ràng thể hiện người phạm tội không có ý định chiếm đoạt, không có hành vi gian dối nhằm che đậy, hợp pháp hoá việc “mượn tiền”. Ngoài ra còn đòi hỏi số tiền mượn đó không quá lớn so với khả năng kinh tế của người phạm tội (người phạm tội có đủ điều kiện để hoàn trả) và tiền đó không phải để dùng vào việc bất hợp pháp. Trong những trường hợp khác như trường hợp “mượn tiền quỹ” đi buôn hoặc cho vay lấy lãi..., tiền không được coi là đối tượng của hành vi sử dụng trái phép tài sản. Hành vi mượn tiền trong những trường hợp này phải bị coi là hành vi chiếm đoạt.

3.Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý.
Lỗi của chủ thể là lỗi cố ý. Người phạm tội biết mình có hành vi sử dụng trái phép tài sản và chỉ mong muốn sử dụng, không mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình.
 

4.Khung hình phạt

Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng: Đây là trường hợp tài sản chiếm đoạt trị giá từ 50 triệu đồng trở lên nhưng dưới mức 200 triệu đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 của điều luật).
- Hành hung để tẩu thoát: Đây là trường họp người phạm tội đã có hành vi chống trả lại việc bắt giữ để tẩu thoát. Việc chống trả này không đòi hỏi phải gây thương tích. Mục đích của việc chống trả là nhằm để tẩu thoát. Nếu nhằm để giữ bằng được tài sản vừa công nhiên chiếm đoạt thì là trường họp chuyển hoá từ công nhiên chiếm đoạt tài sản sang cướp tài sản. 
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp phạm tội công nhiên
chiếm đoạt tài sản thoả mãn các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS. 
- Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ: Đây là trường hợp phạm tội mà đối tượng bị chiếm đoạt là loại tài sản có ý nghĩa đặc biệt về mặt an sinh xã hội. Đó là hàng cứu trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước hoặc của tổ chức quốc tế hoặc của tổ chức, cá nhân nước ngoài. Đây là tài sản không chỉ có giá trị, giá trị sử dụng như tài sản bình thường mà còn có giá trị tinh thần. Đặc điểm đặc biệt này của tài sản bị chiếm đoạt làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi công nhiên chiếm đoạt.
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng: Đây là trường họp tài sản chiếm đoạt trị giá từ 200 triệu đồng trở lên nhưng dưới mức 500 triệu đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ ba được quy định tại khoản 4 của điều luật).
-Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh: Đây là trường họp phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản mà chủ thể đã lợi dụng tình trạng thiên tai hoặc tình trạng dịch bệnh khi thực hiện hành vi phạm tội. 
Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên: Đây là trường họp tài sản bị công nhiên chiếm đoạt trị giá từ 500 triệu đồng trở lên.
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tĩnh trạng khẩn cấp: Đây là trường hợp phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản mà chủ thể đã lợi dụng tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp khi thực hiện hành vi phạm tội. 
Khoản 5 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là: Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồngKhoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Khung hình phạt này được áp dụng cho trường hợp phạm tội mà tài sản bị sử dụng trái phép trị giá dưới 500 triệu đồng.
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Khung hình phạt này được áp dụng cho trường hợp phạm tội mà tài sản bị sử dụng trái phép trị giá dưới 500 triệu đồng.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Tài sản trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng: Đây là trường hợp phạm tội sử dụng trái phép tài sản mà tài sản bị sử dụng trái phép trị giá từ 500 triệu đồng trở lên nhưng dưới mức 1,5 tỷ đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 của điều luật).
- Tài sản là bảo vật quốc gia: Đây là trường họp phạm tội sử dụng trái phép tài sản mà tài sản bị sử dụng trái phép “... là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học” (Điều 4 Luật di sản văn hóa). 
- Phạm tội 02 lần trở lên;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Đây là trường hợp phạm tội sử dụng trái phép tài sản mà chủ thể đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình khi thực hiện hành vi phạm tội.
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp sử dụng trái phép tài sản thoả mãn các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS. 
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội sử dụng trái phép tài sản mà tài sản bị sử dụng trái phép trị giá 1,5 tỷ đồng trở lên.
Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là: Phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 20 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. 

5.Cơ sở pháp lý

Điều 172 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 Điều 177 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê