1. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Thưa luật sư, xin hỏi: Hình phạt đối với hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản là gì ạ ? Cảm ơn!

Trả lời:

Điều 172 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định về Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 172. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ88.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá t50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

b) Hành hung để tẩu thoát;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Phân tích các đặc điểm của Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản:

Đặc điểm nổi bật của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là người phạm tội ngang nhiên lấy tài sản trước mắt người quản lý tài sản mà họ không làm gì được (không có biện pháp nào ngăn cản hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội hoặc nếu có thì không đem lại hiệu quả, tài sản vẫn bị ngươi phạm tội lấy đi một cách công khai).

Tính chất công khai và trắng trợn của hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản thể hiện ở chỗ người phạm tội không giấu giếm hành vi phạm tội của mình, trước, trong và sau khi bị mất tài sản, người bị hại biết ngay ngươi lấy tài sản của mình (biết mà không thể giữ được).

Có thể nhận diện tội công nhiên chiếm đoạt tài sản qua các dấu hiệu sau:

Thứ nhất: Các yếu tố cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội này có dấu hiệu sau:

– Về hành vi. Có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai. Được hiểu là việc chiếm đoạt tài sản mà người phạm tội không cần che giấu hành vi phạm tội, hành vi đó được thực hiện trước mặt người bị hại và những người khác.

Việc thực hiện hành vi chiếm đoạt này thường là do người phạm tội biết người bị hại không dám hoặc không có đủ khả năng tự vệ để ngăn chặn hành vi chiếm đoạt tài sản đó (như biết bị hại là người già yếu, người bị hại là trẻ em…).

Mặt khác, việc thực hiện hành vi chiếm đoạt xảy ra bình thường (không nhanh chóng như đối với tội cướp giật tài sản) người phạm tội rời khỏi nơi thực hiện tội phạm. Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản giữa tội cướp giật tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Lưu ý:

Người phạm tội sau khi đã thực hiện xong một tội phạm nào đó (như tội giết người, tội cố ý gây thương tích, hiếp dâm..) làm cho người bị hại không còn khả năng, hoặc bị hạn chế khả năng bảo vệ tài sản, thì mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, thông qua hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản. Trường hợp này không phải là tội cướp tài sản, mà là tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

– Dấu hiệu khác.

+ Về giá trị tài sản. Giá trị chiếm đoạt tài sản phải từ hai triệu đồng trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

+ Nếu giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới hai triệu đồng thì phải gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt (như trộm cắp, lừa đảo tài sản…) hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt (như tội trộm cắp tài sản, tội cướp giật tài sản…) chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Khách thể:

Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

Mặt chủ quan:

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Chủ thể:

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

Thứ hai: về hình phạt

Mức hình phạt của tội này được chia thành bốn khung, cụ thể như sau:

Khung một (khoản 1)

Có mức phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này nêu ở mặt khách quan.

Khung hai (khoản 2)

Có mức phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau đây:

+ Hành hung để tẩu thoát (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).

+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.

+ Tái phạm nguy hiểm (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).

+ Gây hậu quả nghiêm trọng (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).

Khung ba (khoản 3)

Có mức phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. Được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau đây:

+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

+ Gây hậu quả nghiêm trọng (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).

Khung bốn (khoản 4)

Có mức phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân. Được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau đây:

+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên.

+ Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản)

– Hình phạt bổ sung (khoản 5)

Ngoài việc phải chịu hình phạt chính nêu trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng.

2. Khi nào thì phạm tội chiếm đoạt tài sản?

Chào Luật sư! Cuối năm 2018 mẹ em có làm thuê trong một bệnh viện tại Hà Nội. Vào 1 ngày mẹ em đang ngồi ở ghế ở hành lang bệnh viện thì có nhặt được chiếc túi bên trong có 10 triệu .Đợi 1 lúc không thấy ai quay lại mẹ em đã cầm 10 triệu đó và vứt chiếc túi đi. Sau đó người chủ chiếc túi đó quay lại bảo mẹ ăn trộm và báo với công an quận Đống Đa và công an đã bắt mẹ em với tội danh chiếm đoạt tài sản.

Sau khi bắt mẹ em công an đã nói với gia đình em cầm 30 triệu để bảo lĩnh cho mẹ ra và gia đình em đã làm theo và mẹ em được thả ra. Nhưng đến hôm 7/4/2019 công an lại gọi cho mẹ em và gia đình lên bảo tội của mẹ em nặng và công an có ý định bảo gia đình em nộp thêm tiền để không kiện ra toà. Bây giờ gia đình em không biết xử lý thế nào vì gia đình em nhà quê không có điều kiện, và không biết nộp tiền xong công an lại bắt nộp tiếp.

Mong luật sư giúp đỡ hộ gia đinh em, nếu mẹ em ra toà thì có bị xử nặng không? Mẹ em chưa có tiền án gì và gia đình em là gia đình liệt sỹ có công với đất nước. Mong luật sư giúp đỡ gia đình em không hằng đêm mẹ em cứ khóc và suy nghĩ, em rất lo cho mẹ và bố em vì tuổi đã già rồi ?

Cám ơn luật sư rất nhiều!

>> Luật sư Tư vấn Luật Hình sự về tội chiếm đoạt tài sản: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất là đối với vấn đề tiền bảo lĩnh:

Điều 121 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có quy định về bảo lĩnh như sau:

Điều 121. Bảo lĩnh

1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

2. Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.

Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều này. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

3. Bị can, bị cáo được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.

4. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định bảo lĩnh. Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

5. Thời hạn bảo lĩnh không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn bảo lĩnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định của pháp luật.

Theo đó, bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế cho biện pháp tạm giam mà không phải là biện pháp để không bị đưa ra truy tố trách nhiệm hình sự. Vì vậy, công an yêu cầu gia đình bạn nộp thêm tiền để không bị khởi kiện là trái pháp luật.

Thứ hai, định tội hành vi của mẹ bạn

Căn cứ vào các tình tiết mà bạn đưa ra thì hành vi mà mẹ bạn có thể bị truy cứu về tội chiếm giữ trái phép tài sản theo quy định tại Điều 176 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:

Điều 176. Tội chiếm giữ trái phép tài sản

1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ shữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Theo quy định trên, hành vi của mẹ bạn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm

Việc quyết định hình phạt sẽ dựa vào các quy định sau:

Điều 50. Căn cứ quyết định hình phạt

1. Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhc tính chất và mức độ nguy him cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

2. Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội.

Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

m) Phạm tội do lạc hậu;

n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt

Theo đó, khi quyết định hình phạt Tòa án có thể xem xét các tình tiết giảm nhẹ của mẹ bạn như: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tính toán bồi thường thiệt hại trong tranh chấp hợp đồng ? Quyền thừa kế đất đai ?

3. Tố cáo tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Thưa Luật sư, tôi là chủ đại lý bán thức ăn chăn nuôi cấp 1. Năm ngoái tôi có ký hợp đồng cung cấp hàng hóa cho vợ chồng chủ 1 đại lý cấp 2. Đại lý này chuyên cung cấp thức ăn chăn nuôi cho các hộ gia đình, trong hợp đồng nêu rõ phương thức thanh toán đó là khi nào các hộ gia đình trả tiền hàng cho đại lý cấp 2 thì đại lý này sẽ thanh toán hợp đồng và hạn cuối là đến hết tháng 3 năm 2019. Ngoài thời hạn trên thì họ phải trả lãi với số tiền nợ với mức lãi suất là 150% mức lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước. Sau khi hết tháng 3 tôi có đến đòi nợ thì chủ đại lý này khất nợ với lý do các hộ gia đình chưa trả tiền hàng cho vợ chồng anh ta, nay đã quá hạn trả nợ hơn 3 tháng tôi đến đòi lần 2 thì gia đình người này đã trốn tránh không trả. Tôi có bằng chứng chứng minh các hộ gia đình đã thanh toán đầy đủ tiền cho đại lý này rồi .

Vậy tôi có thể khởi kiện vợ chồng kia về tội lừa đảo và đòi lại cả gốc lẫn lãi được không ?

Tôi xin chân thành cám ơn luật sư !

Tố cáo tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Luật sư tư vấn Luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162.

Trả lời:

Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn đchiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Hành vi của vợ chồng chủ đại lý cấp 2 đã đủ để cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 175 nêu trên, cụ thể: giữa bạn và hai người này đã ký kết 1 hợp đồng mua bán tài sản hợp pháp. Sau khi ký kết bạn đã thực hiện nghĩa vụ của mình là giao hàng nhưng bên mua không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo đúng thỏa thuận, hơn nữa họ còn đưa ra những thông tin gian dối và có hành động trốn tránh để không phải trả nợ . Vậy nêú số nợ (cả gốc lẫn lãi) có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên thì bạn có thể làm đơn tố cáo hình sự hai vợ chồng đó với nội dung nêu trên. Bạn có thể gửi đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự lên cơ quan công an cấp huyện, kèm theo đơn yêu cầu bạn nên gửi kèm các tài liệu, bằng chứng liên quan đến việc quỵt nợ để được giải quyết một cách nhanh chóng nhất .

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

4. Có thể kiện với tội chiếm đoạt tài sản hay không?

Kính gửi luật sư của Công ty Luật Minh Khuê. Tôi viết email này vì muốn nhận được sự tư vấn của luật sư. Vì tôi chỉ là dân quê nên không hiểu biết nhiều về pháp luật cho lắm. Kính mong luật sư dành chút ít thời gian tư vấn giúp tôi.

Năm 2018 mẹ tôi có đưa em trai lên sài gòn học lớp 7 tại 1 trường tư thục nội trú. Lúc đó anh trai tôi có sống cùng với 1 người phụ nữ tại phòng trọ ở quận 9.

Mẹ tôi có giao cho anh tôi 1 cái thẻ ATM (lương hàng tháng sẽ được công ty mẹ tôi trả vào thẻ này) để anh trai tôi đóng tiền học cho em trai. Anh trai tôi rất vụng về trong chuyện tiền bạc nên nghe theo lời H (người yêu của anh tôi) là đưa thẻ cho H giữ sẽ tốt hơn. Vì quen nhau cũng gần 3 năm nên anh tôi tin tưởng giao cho H. Thời gian đầu, số tiền trong thẻ vẫn chưa dùng đến vì ba tôi có gửi tiền lên để đóng tiền học cho em trai tôi. Sau khi em tôi lên lớp 8 thì mới bắt đầu dùng đến số tiền trong thẻ để đóng học phí. Ban đầu H có đóng học phí đàng hoàng. Nhưng không hiểu vì sao đến cuối năm lớp 7 thì nhà trường gọi điện về cho mẹ tôi là tiền học còn thiếu hơn 10 triệu đồng. Mẹ tôi gọi điện cho H thì H nói là đã đóng rồi, nhưng trường trả lời mẹ tôi là chưa đóng. H còn nói với trường là mẹ tôi bị bệnh tim nên đừng gọi điện cho mẹ tôi biết trong khi mẹ tôi hoàn toàn khỏe mạnh. Và tương tự đến năm lớp 8 vào cuối năm học mẹ tôi cũng nhận được 1 cuộc gọi là chưa đóng tiền học từ nhà trường.

Tính đến từ lúc mẹ tôi vào công ty làm việc là năm 2017 tiền lương mẹ tôi dành dụm được trong thẻ cho đến nay cũng được hơn 40 triệu. Vào khoảng cuối năm em tôi học lớp 8 mẹ tôi có vài lần yêu cầu H trả lại thẻ, nhưng Hải dùng nhiều lí do trì hoãn. Có 1 lần ba tôi cần 15 triệu đồng và tôi cần 5 triệu đồng để đóng học phí. Mẹ tôi đã yêu cầu H trả thẻ lại. Nhưng sang ngày hôm sau, ngày H hẹn đưa thẻ thì từ sáng cho đến chiều, cả nhà tôi đã gọi hơn chục cuộc điện thoại nhưng H vẫn viện nhiều lí do và không mang thẻ lên cho mẹ tôi. Đến chiều H gọi tôi lên nhà chị Hằng (là vợ của một người bạn anh trai tôi) còn H nói chở mẹ đi công việc nên không ghé nhà tôi được. Khi gặp thì Hằng đưa tôi số tiền là 20 triệu đồng. Tôi liền gọi cho H và H nói là rút tiền sẵn cho tôi. Tôi đã có chút nghi ngờ nhưng do có đủ số tiền nên tôi không nghĩ gì nữa. Tháng 5/2019 theo lời của mẹ H thì H nói mẹ đưa 20 triệu để trả cho chị HẰNG, chứ không biết là H chỉ lừa gạt mẹ để có đủ tiền đưa cho tôi để che lấp chuyện trong thẻ ATM không còn tiền nữa. Và gần cuối năm 2019 H về nhà theo yêu cầu của gia đình và giao thẻ lại cho anh trai tôi nhưng trong thẻ đã không còn tiền. Trừ ra 20 triệu đã đưa thì trong thẻ vẫn còn hơn 20 mấy triệu.

Nay gia đình yêu cầu H trả tiền thì H đã dùng nhiều lí do để không trả. Lúc giao thẻ mẹ tôi không làm giấy tờ nên bây giờ tôi không biết vào làm sao để nhờ pháp luật can thiệp yêu cầu H và gia đình H trả lại số tiền đó. Vì đó là mồ hôi nuớc mắt của mẹ tôi ?

Kính mong nhận được sự tư vấn của quý luật sư giúp đỡ. Tôi xin chân thành cảm ơn và mong nhận được hồi am sớm.

Có thể kiện với tội chiếm đoạt tài sản hay không?.

Luật sư tư vấn luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

H có phạm tội trong các tội về xâm phạm sở hữu quy định ở chương XIV không thì còn phải dựa trên sự thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra.

Với những tình tiết bạn trình bày thì H có thể phạm tội theo Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Bởi H đã thỏa thuận với anh trai bạn giữ ATM để đóng học phí cho em trai bạn, tức đã có hợp đồng gửi giữ ở đây và ban đầu H có đóng học phí. Nhưng sau đó lại viện các lý do để không đóng học phí và lấy tiền trong thẻ mà không trả, cụ thể: H đã nói dối chính mẹ của mình và khi được yêu cầu hoàn trả nốt 20 triệu thì H lại đưa ra nhiều lý do để không trả tiền. Trong trường hợp này, bạn hãy trình báo cơ quan công an để họ tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ và từ đó xác minh có dấu hiệu tội phạm ở đây hay không và cụ thể là tội gì.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

5. Tư vấn tố cáo hành vi phá hoại và chiếm đoạt tài sản của người khác ?

Xin kính chào luật sư ! Hiện tại trên thửa đất của gia đình tôi có xảy ra sự việc như dưới đây kính đề nghị ban tư vấn giải đáp giúp đỡ gia đình tôi. Gia đình tôi được xã cấp 335m2 đất với mục đích sản xuất nông nghiệp ổn định vào năm 2015. Mảnh đất này trước kia là giếng làng phục vụ chứa nước sinh hoạt cho người dân đã bỏ hoang nhiều năm, trên mảnh đất có một cái ao, xung quanh là bờ đất, mảnh đất thuộc sự quản lý của chính quyền thôn.

Trước khi giao đất chính quyền thôn đã họp dân, được sự đồng ý của người dân trưởng thôn làm đơn xin chuyển đổi mục đích sử dụng cho gia đình tôi và được chính quyền xã chấp thuận. Gia đình tôi đã nộp phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất 1 lần là 75 000 000 vnđ (bảy mươi năm triệu đồng), được chính quyền xã giao biên bản bàn giao đất. Số tiền này được dùng để xây dựng nhà văn hóa của thôn. Gia đình tôi đã thả cá trong ao và trồng chuối xung quanh bờ ổn định từ năm 2015 đến nay.

Ngày 13/11/2016 một nhóm người lôi kéo đông đảo người dân trong làng với lý do đòi lại giếng làng đến phá chuối của gia đình tôi, xây dựng tường bao trên mảnh đất nêu trên. Chính quyền xã và công an huyện đã có mặt tại hiện trường giải thích cho mọi người, lập biên bản yêu cầu ngừng việc xây dựng nhưng nhóm người không chấp hành, họ tiếp tục phá chuối và xây bờ tường. Gia đình tôi đã can ngăn, giải thích nhưng không thể chống lại hành động xâm hại của họ. Khi họ về gia đình tôi đã phá bỏ bức tường họ đã xây. Ngày 14/11/2016 có khoảng 10 người dân, những người cầm đầu hành động xâm hại, đặt máy bơm, bơm cạn nước ao, bắt hết cá trong ao của gia đình tôi, mang cá về nấu ăn. Gia đình tôi đã ngăn cản, họ dọa đánh, chúng tôi bất lực trước hành động hung hăng ngang ngược của họ. Thiệt hại khoảng 100kg cá các loại, ước tính 3 000 000 (ba triệu đồng).

Ngày 16/11/2016 khoảng 20 người đến tiếp tục việc xây bờ tường, thực hiện xây khoảng 10 người. Gia đình tôi tiếp tục ngăn cản, họ đe dọa trói, đánh. Chúng tôi không thể ngăn cản được họ. Chúng tôi đã làm đơn tố cáo hành động phá hại, chiếm đoạt tài sản của gia đình lên chính quyền xã, được chính quyền xã thông báo sẽ chuyển hồ sơ sự việc xuống công an huyện giải quyết. Gia đình tôi đang sống trong sợ hãi, bất lực nhìn tài sản bị xâm hại chiếm đoạt. Kính mong luật sư giúp đỡ chỉ dẫn cho chúng tôi về mặt pháp lý, chúng tôi phải làm gì, cơ quan chức năng nào sẽ giải quyết cho chúng tôi ?

Xin chân thành cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến gọi :1900.6162

Trả lời:

Dựa trên thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin tư vấn vấn đề của bạn như sau:

Thứ nhất, Gia đình bạn được xã cấp 335m2 đất với mục đích sản xuất nông nghiệp ổn định vào năm 2015. Mảnh đất này trước kia là giếng làng phục vụ chứa nước sinh hoạt cho người dân đã bỏ hoang nhiều năm, trên mảnh đất có một cái ao, xung quanh là bờ đất,mảnh đất thuộc sự quản lý của chính quyền thôn. Trước khi giao đất chính quyền thôn đã họp dân, được sự đồng ý của người dân trưởng thôn làm đơn xin chuyển đổi mục đích sử dụng cho gia đình bạn và được chính quyền xã chấp thuận. Gia đình bạn đã nộp phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất 1 lần là 75 000 000 vnđ (bảy mươi năm triệu đồng),được chính quyền xã giao biên bản bàn giao đất. Xét thấy, gia đình bạn đã có quyền sử dụng đối với mảnh đất này vì gia đình bạn đã được xã và mọi người lúc đó chấp thuận, hơn nữa cũng đã đóng tiền sử dụng đất khi chuyển đổi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo đúng quy định của pháp luật hiện hành theo Khoản 2 Điều 57 Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội quy định:

"Khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; chế độ sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được áp dụng theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng."

Thứ hai, Ngày 13/11/2016 một nhóm người lôi kéo đông đảo người dân trong làng với lý do đòi lại giếng làng đến phá chuối của gia đình bạn. Sự việc này đã được Cơ quan chức năng chính quyền địa phương vào cuộc giải thích cho mọi người, lập biên bản yêu cầu ngừng việc xây dựng nhưng nhóm người không chấp hành, họ tiếp tục phá chuối và xây bờ tường. Nhưng ngay sau đó 1 ngày thì nhóm người này tiếp tục hành vi vi phạm nêu trên vẫn cố ý có hành vi phá hoại đối với gia đình bạn. Để bảo vệ quyền và lợi ích của gia đình mình bạn cần khởi kiện lên tòa án nơi xảy ra hành vi vi phạm để yêu cầu đòi bồi thường theo quy định của Bộ luât dân sự năm 2015. Cụ thể:

Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Điều 587. Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra

Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.

Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:

1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.

2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.

3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

4. Thiệt hại khác do luật quy định.

Xét thấy, trong trường hợp của bạn do nhóm người gây ra, hành vi xâm phạm mang tính chất đám đông gây thiệt hại, họ bỏ qua sự giả thích và biên bản của cơ quan chức năng trước đó và cố ý lần nữa gây thiệt hại đến gia đình bạn. Do đó bạn cần tìm ra người đứng đầu gây tác động tới hành vi của những người trong nhóm còn lại để khởi kiện và những người kia sẽ được cấu thành tội đồng phạm. Dựa vào mức độ thiệt hại để bạn yêu cầu họ bồi thường. Ngoài ra, hành vi xâm phạm của nhóm người này có thể cấu thành tội phạm hình sự nếu thỏa mãn các dấu hiệu tội phạm của tội cố ý gây thương tích (gia đình bạn tiếp tục ngăn cản, họ đe dọa trói,đánh) tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (những người cầm đầu hành động xâm hại, đặt máy bơm, bơm cạn nước ao, bắt hết cá trong ao của gia đình bạn mang cá về nấu ăn). Hơn nữa với hành vi " đặt máy bơm , bơm cạn ao nước, bắt hết cá của gia đình mang về nấu ăn ", hành vi này được coi là đã lợi dụng sự vướng mắc, sơ hở trong hoàn cảnh vướng mắc của gia đình bạn mà những người này có hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản của gia đình bạn theo Điều 172. Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:

Điều 172. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ88.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá t50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

b) Hành hung để tẩu thoát;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Trong trường hợp này, gia đình bạn có thể làm đơn tố cáo lên cơ quan công an cấp huyện để được giải quyết.

Ngoài ra bạn có thể dựa vào mức độ thương tích của bạn và giá trị tài sản và hành vi của họ để truy cứu TNHS như sau:

+ Về tội cố ý gây thương tích, tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác như sau:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy him hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy him hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trlên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần tr lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người tr lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

+ Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản bạn. tại Điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản như sau:

Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cvật.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

c) Tài sản là bảo vật quốc gia;

d) Dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Đche giấu tội phạm khác;

e) Vì lý do công vụ của người bị hại;

g) Tái phạm nguy hiểm,

3. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

4. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá 500.000.000 đồng trlên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản