Tín dụng là việc chuyển giao vốn dựa trên cơ sở tín nhiệm và theo nguyên tắc hoàn trả, theo đó, người cho vay chuyển giao quyền sử dụng một lượng tài sản cho người vay trong một thời hạn nhất định.

Tín dụng xuất hiện cùng với sự xuất hiện của tiền tệ và quan hệ trao đổi hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu điều hòa vốn trong xã hội. Vốn là đối tượng chuyển giao trong quan hệ tín dụng có thể là tiền mặt hay tài sản trị giá thành tiền. Trong quan hệ tín dụng, người nhận chuyển giao vốn sau một thời gian sử dụng vốn theo thỏa thuận phải hoàn trả lại cho người đã chuyển giao cho mình. Về bản chất pháp lí, quan hệ tín dụng là một dạng quan hệ vay tài sản nhưng khác với các quan hệ vay tài sản thông thường ở chỗ, đối tượng hoàn trả không phải là vật cùng loại mà là tiền. Trong quan hệ kinh tế - thương mại, thông “thường đối tượng của nghĩa vụ hoàn trả là một lướng giá trị lớn hơn lượng giá trị được chuyển giao gồm giá trị được chuyển giao và lãi tín dụng. Lãi tín dụng được tính theo lãi suất, là giá cả của tín dụng. Căn cứ vào chủ thể tiến hành hoạt động tín dụng mà tín dụng được phân chia ra các loại như: tín dụng Nhà nước, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng hợp tác xã... Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn, tín dụng được phân chia làm các loại: tín dụng ngắn hạn (thời hạn sử dụng vốn tối đa đến 12 tháng), tín dụng trung hạn (thời hạn sử dụng vốn từ trên 12 tháng đến 60 tháng), tín dụng dài hạn (thời hạn sử dụng vốn từ trên 60 tháng).

 

1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng

Căn cứ vào thời hạn tín dụng, tín dụng có thể chia thành các hình thức sau:

- Tín dụng không kỳ hạn là loại tín dụng mà người cho vay không quy định thời hạn cho vay, khi cần có thể yêu cầu người đi vay hoàn lại vốn bất cứ lúc nào. Nguồn tín dụng này chủ yếu là nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng đến hoặc những nguồn tiền tệ không thể đầu tư có thời hạn trước rủi ro do tiền tệ mất giá gây ra. Tính "lỏng" của loại tín dụng này là rất cao, do đó, ngân hàng hoặc người đi vay bao giờ cũng phải lập quỹ dự bị tiền mặt đủ mức cần thiết để phòng sự rút tiền đột ngột của khách hàng.

- Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm. Tín dụng này thường phục vụ cho việc huy động và bổ sung vốn lưu động của doanh nghiệp hoặc phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng bức thiết của dân cư.

- Tín dụng trung hạn là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Loại tín dụng này phục vụ cho nhu cầu mua sắm tài sản cố định, đầu tư mở rộng sản xuất với quy mô nhỏ, thu hồi vốn nhanh.

Việc phân loại tín dụng căn cứ vào thời hạn trung hạn chỉ có ý nghĩa tương đối, điều quan trọng là tín dụng mua sắm tài sản có thời gian khấu hao ngắn, dưới 5 năm hoặc 1 năm trở lên được coi là căn cứ phân loại thích hợp.

- Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn cho vay từ 5 năm trở lên. Loại tín dụng này được dùng để đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở của nền kinh tế quốc dân, đầu tư chiều sâu để nâng cao năng suất lao động và tạo vị thế cho các ngành công nghiệp then chốt và khả năng hợp tác chuyên ngành và đa ngành, đồng thời góp phần đổi mới cơ cấu của nền kinh tế quốc dân.

Tín dụng dài hạn thường là tín dụng nhà nước, tín dụng quốc tế. Sự phát triển của tín dụng dài hạn sẽ định hướng cho sự phát triển của các loại tín dụng khác.

 

2. Căn cứ vào đối tượng của tín dụng

Căn cứ vào đối tượng của tín dụng, tín dụng gồm các loại sau đây:

- Tín dụng hiện vật là loại tín dụng khi vay khi trả đều dùng hiện vật như thóc, gạo, gạch...

Loại tín dụng này xuất hiện sớm nhất và được duy trì đến ngày nay. Sử dụng chủ yếu trong hoạt động của dân cư.

- Tín dụng tiền tệ là loại tín dụng khi vay và khi trả đều dùng tiền tệ, bao gồm cả quan hệ vay mượn bằng những giấy tờ có giá. Quy mô của tín dụng tiền tệ có thể rất lớn. Thời hạn của tín dụng tiền tệ cũng rất linh hoạt, có thể là loại không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn.

- Loại tín dụng hỗn hợp vừa tiền, vừa hiện vật gồm các loại tín dụng khi vay bằng hiện vật, khi trả bằng tiền hoặc khi vay bằng tiền, khi trả bằng hiện vật.

Tín dụng hàng hóa là một loại tín dụng hỗn hợp, trong đó đối tượng cho vay là hàng hóa và hoàn trả bằng tiền. Tín dụng hàng hóa thường có quy mô nhỏ và thời hạn ngắn và thường do các doanh nghiệp cấp cho nhau để thúc đẩy việc mua bán hàng hóa, dịch vụ nên còn gọi là tín dụng thương mại.

Tín dụng thuê mua cũng là một hình thức đáng lưu ý khác của tín dụng hỗn hợp. Đây là loại tín dụng mà các tổ chức tín dụng, các công ty tài chính mua các loại máy móc thiết bị theo yêu cầu của bên đi thuê để cho họ thuê. Bên đi thuê sử dụng thiết bị máy móc và trả tiền thuê theo thỏa thuận.

 

3. Căn cứ vào sự đảm bảo hoàn trả nợ 

Căn cứ vào sự đảm bảo hoàn trả nợ có hai loại tín dụng:

- Tín dụng tín chấp là hình thức tín dụng mà việc cho vay vốn dựa trên uy tín của người vay để đảm bảo việc hoàn trả nợ. Loại tín dụng này áp dụng trong trường hợp nếu giữa người cho vay và người đi vay có quan hệ thân tín, hoặc người đi vay là người có uy tín rất lớn và được mọi người công nhận, ví dụ như nhà nước.

- Tín dụng thế chấp (vật chấp) là sự vay mượn mà việc hoàn trả nợ được đảm bảo không chỉ bới uy tín của người vay mà còn được đảm bảo bằng các tài sản của người đi vay hoặc người bảo lãnh của người đi vay.

 

4. Căn cứ vào lãnh thổ hoạt động

- Tín dụng nội địa là việc vay mượn phát sinh giữa các bên hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.

- Tín dụng quốc tế là việc vay mượn phát sinh giữa các bên hoạt động trên các lãnh thổ khác nhau như giữa hai chính phủ, hai doanh nghiệp, hai cá nhân thuộc hai quốc gia khác nhau hoặc với tổ chức quốc tế nào đó. Khác với tín dụng nội địa, hoạt động tín dụng quốc tế chịu sự chi phối phức tạp của luật pháp và tập quán quốc gia và quốc tế. Tín dụng quốc tế gắn liền với quan hệ chính trị thương mại giữa các quốc gia và có ảnh hưởng lớn tới uy tín của một quốc gia trên trường quốc tế. Vì vậy, mọi hoạt động tín dụng quốc tế đều phải được giám sát chặt chẽ.

 

5. Căn cứ vào chủ thể tham gia tín dụng

Nếu căn cứ vào chủ thể tham gia tín dụng, tín dụng được phân chia thành tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng. Đây cũng là các hình thức tín dụng tiêu biểu và được quan tâm trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về các hình thức tín dụng này.

 

5.1. Tín dụng thương mại

Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng do các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, doanh nhân cấp cho nhau không có sự tham gia của hệ thống ngân hàng. Hình thức phổ biến nhất của tín dụng thương mại là mua chịu hàng hóa..

Tín dụng bán chịu hàng hóa phát sinh là do sự cách biệt giữa sản xuất và tiêu thụ, từ đó xảy ra hiện tượng có một số nhà doanh nghiệp có hàng hóa muốn bán, trong lúc một số nhà doanh nghiệp khác muốn mua nhưng chưa có tiền mặt. Trong tình huống này, nhà doanh nghiệp với tư cách là người bán muốn thực hiện được giá trị sản phẩm của mình họ có thể bán chịu hàng hóa cho người mua. Hành vi mua bán chịu hàng hóa được xem là hình thức tín dụng, bởi lẽ người bán chuyển giao cho người mua được sử dụng vốn hàng hóa tạm thời trong một thời gian nhất định và khi đến thời hạn đã được thỏa thuận người mua phải hoàn lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi cho người bán chịu.

Tín dụng thương mại có hai loại gồm tín dụng thương mại không sử dụng thương phiếu và tín dụng thương mại có sử dụng thương phiếu (commercial paper).

- Tín dụng thương mại không sử dụng thương phiếu là việc người bán (người cho vay) bán sản phẩm cho người mua (người đi vay) bằng cách ghi số tiền bán chịu vào một tài khoản nhất định, còn người mua có nghĩa vụ hoàn trả cho người bán theo một cách nào đó, thường theo định kỳ. Loại tín dụng này thường áp dụng với những quan hệ thương mại thân tín, lâu dài hoặc quan hệ tín dụng giữa công ty mẹ và công ty con.

- Tín dụng thương mại có sử dụng thương phiếu đòi hỏi người bán chịu và người mua chịu theo dõi và kết thúc công nợ do bán chịu sản phẩm bằng thương phiếu. Đây là một dạng đặc biệt của khế ước dân sự xác định trái quyền cho người bán và nghĩa vụ phải thanh toán nợ của người mua khi món nợ đáo hạn. Thương phiếu là một chứng khoán cho người hưởng lợi quyền nhận một số tiền ghi trên thương phiếu vào một ngày nhất định trong tương lai đã được định trước ở hiện tại.

Thương phiếu có 2 loại: Hối phiếu và lệnh phiếu.

Hối phiếu (draft hoặc bill of exchange) là một phiếu ghi nợ chủ nợ (người ký phát - drawer) lập ra để ra lệnh cho người thiếu nợ (người thụ lệnh - drawee) trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng (người hưởng lợi - beneficiary/ payee) hoặc theo lệnh của người này trả cho một người khác khi món nợ đáo hạn. Ở đây, người thụ hưởng có thể là chủ nợ hoặc một người nào đó do người chủ nợ chỉ định.

Lệnh phiếu (tín phiếu- promissory note) là một phiếu nhận nợ do người thiếu nợ (người ký lệnh - maker) lập ra để cam kết trả một số tiền nhất định cho người chủ nợ hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác khi món nợ đến hạn.

Thương phiếu được sử dụng vào các mục đích:

Dùng để nhận lại tiền ở người mua khi đến hạn thanh toán. Dùng để thanh toán các khoản nợ. Để chiết khấu tại ngân hàng.

Thương phiếu có 3 tính chất cơ bản sau đây:

Tính trừu tượng của thương phiếu thể hiện ở chỗ thương phiếu không nêu cụ thể nội dung nghiệp vụ gốc dẫn đến nợ mà chỉ nêu số tiền nợ và kỳ hạn nợ.

Tính bắt buộc của thương phiếu chỉ nghĩa vụ trả nợ theo thương phiếu là bắt buộc được điều chỉnh theo luật. Người nhận nợ phải thanh toán số tiền ghi trên thương phiếu cho người hưởng lợi khi đến hạn thanh toán mà không được viện bất cứ lý do nào để từ chối hoặc trì hoãn nợ.

Tính lưu thông của thương phiếu chỉ việc người sở hữu thương phiếu có thể chuyển nó thành tiền bằng cách ký hậu, chuyển nhượng, bán ra thị trường tiên tệ hay chiết khấu tại các ngân hàng.

Tín dụng thương mại là một đòi hỏi khách quan trong nền kinh tế, là hình thức tín dụng tiện lợi và linh hoạt trong kinh doanh. Tín dụng thương mại giúp doanh nghiệp đảm bảo chu kỳ kinh doanh được liên tục, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm và vòng quay của vốn, tiết kiệm chi phí lưu thông. Hơn nữa, tín dụng thương mại còn giảm sự lệ thuộc về vốn vào nhà nước và các trung gian tài chính của các doanh nghiệp, tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh lâu bền.

Tuy nhiên, bản thân tín dụng thương mại cũng có một số hạn chế nhất định. Lượng giá trị cho vay trong tín dụng thương mại bị hạn chế bởi chính khả năng tài chính của doanh nghiệp cho vay. Thời hạn cho vay thường ngắn hạn, hơn nữa khoản vay tín dụng thương mại cũng kém linh hoạt ở chỗ đối tượng cho vay là hiện vật chứ không phải giá trị. Phạm vi hoạt động của tín dụng thương mại cũng hẹp hơn các hình thức tín dụng khác, thường chỉ được tiến hành trong phạm vi các doanh nghiệp tin cậy lẫn nhau.

Vì những hạn chế này, cần phải gắn kết tín dụng thương mại với các kênh tín dụng khác, đặc biệt là tín dụng ngân hàng. Tín dụng thương mại, một mặt tạo điều kiện cho sự mở rộng tín dụng ngân hàng thông qua các nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố, tái cầm cố thương phiếu tại các ngân hàng. Mặt khác, phát triển các hình thức thanh toán qua ngân hàng một cách rộng khắp, chấp hành nghiêm ngặt kỷ luật thanh toán sẽ góp phần mở rộng việc sử dụng tín dụng thương mại trong nền kinh tế quốc dân.

 

5.2. Tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng giữa một bên là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng và một bên là các chủ thể kinh tế - tài chính của toàn xã hội (doanh nghiệp, tổ chức xã hội, các cấp quản lý nhà nước hoặc cá nhân).

Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng tiền tệ. Khác với tín dụng thương mại được cung cấp nhiều dưới hình thức hàng hóa, tín dụng ngân hàng được cung cấp dưới hình thức tiền tệ, bao gồm tiền mặt và tiền tín dụng (bút tệ).

Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, ngân hàng đóng vai trò là người đi vay và người cho vay.

Khi đi vay của xã hội, ngân hàng sử dụng nhiều phương thức như mở tài khoản thu hút tiền gửi với kỳ hạn khác nhau, phát hành các loại chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, vay theo hợp đồng vay mượn hoặc ký kết các hiệp định vay nợ,...Khi cho vay đối với xã hội, ngân hàng chủ yếu sử dụng phương thức cấp tín dụng theo tài khoản cho vay hoặc theo tài khoản kết hợp giữa tài khoản cho vay và tài khoản tiền gửi để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.

Cả khi đi vay và cho vay, ngân hàng thường là người đặt ra các điều kiện tín dụng cho khách hàng chấp nhận. Người cho vay nếu chấp thuận các điều kiện của ngân hàng thì chủ động cho vay và nhận về những giấy chứng nhận. Người đi vay nếu đồng ý với các điều kiện do ngân hàng đặt ra thì ký hết hợp đồng vay mượn và phải thực hiện nghiêm túc hợp đồng đã ký kết.

Trong hệ thống tín dụng quốc dân, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng có nhiều ưu việt hơn các hình thức tín dụng khác. Trước hết, tín dụng ngân hàng hoạt động trong phạm vi rộng hơn do mạng lưới chi nhánh phân bố khắp lãnh thổ và thu hút mọi chủ thể trong nền kinh tế. Thứ hai, tín dụng ngân hàng này mang tính chất linh hoạt hơn các hình thức tín dụng khác vì đối tượng vay mượn ở đây là tiền là vốn chứ không phải là vật tư, hàng hóa. Thứ ba, tín dụng ngân hàng tạo điều kiện duy trì phát triển loại hình tín dụng khác bằng sự tham gia rộng rãi của tín dụng ngân hàng thông qua các nghiệp vụ chiết khấu, cầm cố, tái chiết khấu, tái cầm cố các giấy tờ có giá, và đặc biệt việc cho vay đối với nhà nước làm tín dụng ngân hàng có vai trò tích cực trong thực hiện các chính sách tài chính tiền tệ của nhà nước.

 

5.3. Tín dụng nhà nước

Tín dụng nhà nước là quan hệ vay mượn giữa nhà nước với xã hội để phục vụ cho việc thực thi các chức năng quản lý kinh tế - xã hội của mình.

Khi đi vay, nhà nước có thể đi vay trong nước cũng có thể là ngoài nước. Vay nợ trong nước được tiến hành dưới hình thức phát hành trái phiếu, tín phiếu chính phủ. Các khoản vay nước ngoài của nhà nước có thể tồn tại dưới dạng các khoản vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của chính phủ nước ngoài (song phương), của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế (đa phương); các khoản vay mượn theo các hiệp định vay mượn giữa chính phủ với các tổ chức tài chính tiền tệ thế giới; vay của các thương nhân, tổ chức tài chính tín dụng nước ngoài hoặc thông qua việc phát hành trái phiếu chính phủ quốc tế tại các thị trường vốn quốc tế.

Khi thực hiện cho vay, ngân sách nhà nước cho vay đầu tư vào các công trình, dự án của nhà nước. Ngân sách nhà nước cũng có thể cho vay với tính chất là ứng trước hoặc tạm ứng đối với những nhu cầu chi tiêu mang tính cấp bách mà các khoản thu về chưa kịp, chưa đủ.

Hình thức biểu hiện bên ngoài của tín dụng nhà nước là sự vay mượn tạm thời một số hiện vật hay tiền, nhưng bản chất bên trong chứa đựng nhiều mối quan hệ giữa nhà nước với các chủ thể khác.

Bản chất của tín dụng nhà nước có đặc trưng cơ bản là sự hoàn trả và có lợi tức, giống như bản chất của tín dụng nói chung; ngoài ra, nó còn có những đặc trưng khác như tính cưỡng chế, chính trị, xã hội. Tính lợi ích kinh tế thể hiện trực tiếp trên lợi tức tiền vay, thể hiện gián tiếp qua việc hưởng thụ các tiện nghi công cộng, có thêm việc làm do đầu tư tín dụng nhà nước mang lại. Đối với cho vay nợ nước ngoài, lợi ích kinh tế không chỉ thể hiện trên lợi tức tiền vay mà còn mang lại cho nước chủ nợ nhiều khoản lợi ích khác về thuế quan, về xuất nhập khẩu hàng hóa. Tính cưỡng chế của tín dụng nhà nước thể hiện ở việc nhà nước qui định mức huy động theo nghĩa vụ bắt buộc đối với các chủ thể trong nước. Tính chính trị của tín dụng nhà nước thể hiện ở lòng tin của dân chúng đối với chính phủ, thể hiện ở trách nhiệm và mối quan tâm của chính phủ đối với dân chúng chẳng hạn như cho vay tài trợ, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo... Trong quan hệ đối ngoại, tính chính trị của tín dụng nhà nước thể hiện mối quan hệ chính trị, ngoại giao... giữa nước chủ nợ và nước con nợ. Những đặc trưng này xuất phát từ quyền lực chính trị, từ chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong quá trình kinh tế - xã hội.

Tín dụng nhà nước là hình thức tín dụng không thể thiếu trong hệ thống tín dụng quốc dân do vai trò to lớn mà nó đảm nhiệm. Trước hết, tín dụng nhà nước là nguồn bù đắp thiếu hụt ngân sách quan trọng. Đây là chức năng và vai trò quan trọng nhất của tín dụng nhà nước. Việc bù đắp thiếu hụt ngân sách được thể hiện qua hai khía cạnh: (1) Tín dụng nhà nước bù đắp các khoản chi tiêu dùng thường xuyên và không tham gia vào chu trình tái sản xuất của nền kinh tế, (2) Tín dụng nhà nước được sử dụng tích cực hơn để bù đắp những khoản chi cho đầu tư phát triển kinh tế, tăng thêm nguồn lực tài chính cho nhà nước để thực thi các chính sách quản lý vĩ mô nền kinh tế. Thứ hai, tín dụng nhà nước tạo điều kiện phát triển thương mại, hợp tác quốc tế. Thứ ba, tín dụng nhà nước tạo điều kiện để phát triển tín dụng ngân hàng, vì các giấy tờ có giá của tín dụng nhà nước là một loại đối tượng quan trọng để chiết khấu, cầm cố, tái chiết khấu, tái cầm cố tại ngân hàng.

Nhìn chung, tín dụng nhà nước là loại tín dụng tín chấp cả về phía nhà nước đi vay và cho vay. Nhà nước dùng uy tín của mình để đảm bảo việc trả nợ đúng hạn số tiền đã vay. Tuy vậy, nhà nước phải tính toán kỹ nhu cầu vay, có biện pháp sử dụng có hiệu quả vốn vay nhằm tạo ra cơ sở tài chính đáng tin cậy cho việc hoàn trả nợ trong nước và đặc biệt là nợ nước ngoài. Nếu không, tình trạng vỡ nợ có thể xảy ra và uy tín của nhà nước sẽ bị mất đi.

 

5.4. Tín dụng tiêu dùng

Tín dụng tiêu dùng là quan hệ tín dụng phục vụ cho việc tiêu dùng của dân cư với người tiêu dùng là người đi vay và doanh nghiệp, cá nhân là người cho vay. Trong xã hội hiện đại, người cho vay là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, các công ty tài chính...

Loại tín dụng tiêu dùng phổ biến là bán chịu trả góp của các loại doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cung cấp cho người tiêu dùng. Loại tín dụng này luôn kết hợp với việc trả ngay một phần theo hợp đồng hay một giao kèo bán chịu trả góp giữa doanh nghiệp và người đi vay. Người tiêu dùng cũng có thể đi vay các tổ chức trung gian tài chính để thanh toán tiền mua hàng tiêu dùng của các doanh nghiệp.

Tín dụng tiêu dùng ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong đời sống kinh tế xã hội. Thứ nhất, tín dụng tiêu dùng góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển thông qua việc kích thích tiêu thụ sản phẩm. Thứ hai, tín dụng tiêu dùng là công cụ quan trọng, góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của dân cư và từ tác dụng này, tín dụng tiêu dùng tác động tích cực tới sản xuất kinh doanh.

Để tín dụng tiêu cùng phát triển mạnh và lành mạnh, điều quan trọng là phải nắm được khả năng thu nhập hiện tại cũng như trong tương lai của người vay. Ngoài ra, người cho vay phải định ra mức lãi hợp lý, có sức khuyến khích người tiêu dùng mạnh dạn sử dụng tín dụng tiêu dùng. 

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến tín dụng, ngân hàng ... Hãy gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng trực tuyến qua tổng đài điện thoại.

Nguồn: Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích từ các nguồn trên internet)