Mục tiêu chung của pháp luật cạnh tranh là bảo vệ môi trường cạnh tranh hiệu quả cho nền kinh tế nên trong pháp luật cạnh tranh của nhiều nước, hành vi lạm dụng bị cấm bao gồm các hành vi có đối tượng xâm hại là khách hàng, người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, pháp luật cạnh ttanh cùa một số nước (điển hình như pháp, luật của Canada) chủ yểu chỉ cấm đoán các hành vr có mục tiêu trừng phạt, xoá sổ hay ngăn cản đối thủ-cạnh tranh và đưa đến kết quả là cạnh tranh bị ngăn cản trên thị trường.

Các lí thuyết cạnh tranh đưa ra nhiều cách phân loại hành vi lạm dụng, trong đó có hai cách thức cơ bản là phân loại dựa trên đối tượng bị xâm hại và phân nhóm dựa trên mục đích và tính chất của hành vi.

1. Phân loại dựa trên đối tượng bị xâm hại

Dựa trên đối tượng bị xâm hại, hành vi lạm dụng được phân chia thành hai nhóm: Hành vi lạm dụng mang tính bóc lột và nhóm hành vi lạm dụng mang tính độc quyền.

- Nhóm hành vi lạm dụng mang tính bóc lột là những hành vi doanh nghiệp sử dụng vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền đó như một lợi thế trong các quan hệ với khách hàng nhằm thu lợi nhuận độc quyền. Ngoài những dấu hiệu cơ bản của hành vi lạm dụng như đã phân tích ở mục 1.2, nhóm hành vi này còn có các dấu hiệu cơ bản sau:

Thứ nhất, đối tượng mà nhóm hành vi này hướng đến là khách hàng của doanh nghiệp. Do đó, chúng phát sinh trong quan hệ giữa doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc có vị trí độc quyền vói khách hàng. Trong quan hệ này, khách hàng là người có vị thế yếu hơn do quyền lựa chọn bị hạn chế. Với vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền, doanh nghiệp kiểm soát toàn bộ hpặc phần lớn nguồn cung hoặc nguồn cầu của thị trường.

Thứ hai, hành vi lạm dụng đem lại lợi ích cho doanh nghiệp không từ hiệu quả kinh doanh mà từ những điều kiện thương mại bất lợi khách hàng phải gánh chịu. Lợi ích mà doanh nghiệp

thu được có thể là các khoản lợi nhuận độc quyền, khả năng khống chế các yếu tổ của thị trường như nguyên, vật liệu, nguồn cung..., các chiến lược kinh doanh ở những thị trường khác được thực hiện... Điều này cho thấy bản chất bóc lột của hành vi lạm dụng bởi các khoản lợi ích mà doanh nghiệp thu được là do đã bóc lột được từ khách hàng bằng những nghĩa vụ vô lí hoặc không công bằng.

Theo Luật cạnh tranh, nhóm hành vi này bao gồm các hành vi:

1) Áp đặt giá mua giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lí hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;

2) hạn chế sản xuất, phân phối sản hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kĩ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;

3) phân biệt đổi xử trong các giao dịch như nhau;

4) áp đặt các điều kiện cho doanh nghiệp khác kí kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc các doanh nghiệp khác phải chấp nhận những nghĩa vụ không hên quan đến đối tượng của hợp đồng.

- Hành vi lạm dụng mang tính độc quyền là những nỗ lực của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền trên thị -trường liên quan kìm hãm cạnh tranh bằng những thủ đoạn loại bỏ hoặc ngăn cản đối thủ tham gia thị trường nhằm duy trì, củng cố quyền lực thị trường. Nhóm hành vi này có hai dấu hiệu cần phải chú ý là:

Thứ nhất, đối tượng mà hành vi này hướng đến là đối thủ cạnh tranh. Đối thủ cạnh tranh có thể là các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hoặc các đối thủ tiềm năng.

Thứ hai, nhóm hành vi này có thể không đem lại cho doanh nghiệp lọi ích vật chất trực tiếp nhưng tạo cơ hội cho doanh nghiệp củng cố địa vị bằng cách loại bỏ đối thủ. Sự ra đi hoặc việc từ bỏ ý định gia nhập thị trường sẽ giảm bớt sức ép cạnh tranh cho doanh nghiệp đồng thời khách hàng sẽ mất đi cơ hội có được sự lựa chọn trong giao dịch trên thị trường hên quan.

Theo Luật cạnh tranh 2018, nhóm hành vi này bao gồm hai hành vi là:

1) Bán hàng hoá, dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ đối thủ cạnh tranh;

2) Ngăn cản việc tham gia hoặc mở rộng thị trường của doanh nghiệp khác.

2. Phân loại dựa trên mục đích và tính chất của hành vi

Nghiên cứu về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, các lí thuyết cạnh tranh đưa ra nhiều kiểu hành vi khác nhau dựa trên mục đích và tính chất của chúng như hành vi làm tăng chi phí của đối thủ để chiếm lĩnh thị trường, hành vi liên kết dọc để ngăn cản đối thủ tiềm năng hoặc chèn ép đối thủ yếu hơn, hành vi thâu tóm khách hàng, hành vi định giá huỷ diệt, hành vi phân biệt đối xử và chi phối các yếu tố khác trên thị trường như gíá, chi phối cung cầu... Pháp luật các nước sử dụng các kết quả nghiên cứu về tính chất và mục đích cửa từng nhóm hành vi để xây dựng nên cấu thành pháp lí cho từng hặnh vi lạm dụng cụ thể.

- Hành vi làm tăng chi phí của đối thủ để chiếm lĩnh thị trường. Mục đích của hành vi này là làm cho khả năng cạnh tranh của đối thủ trở nên yếu hơn do phải tăng chĩ phí sản xuất, kinlrđoanh. Từ đó có thể ngăn cản hoặc loại bỏ đối thủ. Hành vi này có thể được thực hiện dưới các hình thức như hành vi cùa nhà cung cấp trong một liên kết theo chiều dọc chèn ép lợi nhuận của một khách hàng không trong liên kết đang cạnh tranh với nhà cung cấp đó (cạnh tranh ở thị trường cấp dưới) nhằm mục đích ngăn cản khách hàng đó gia nhập hoặc mở rộng thị trường; hành vi thâu tóm nguồn đầu vào cần thiết cho cạnh tranh để buộc đối thủ cạnh tranh phải tăng chi phí để có được nguồn đầu vào đó hoặc nguồn đầu vào khác có giá cao hơn; hành vi thâu tóm các phương tiện hoặc nguồn lực khan hiếm cần thiết để ngăn cản đối thử...

- Thâu tóm khách hàng để ngăn cản hoặc loại bỏ đối thủ: Việc thâu tóm khách hàng có thể ngăn cản việc gia nhập thị trường hoặc kìm hãm sự phát triển của đối thủ, loại bỏ đối thủ bàng cách không cho đổi thủ cạnh tranh có đủ lượng khách hàng càn thiết để có lợi nhuận. Hành vi này có thể thực hiện thông qua các hợp đồng ràng buộc đối với khách hàng như không cho khách hàng phân phối sản phẩm của đối thủ, áp dụng những hợp đồng dài hạn với các điều khoản tự động gia hạn để tạọ ra những chi phí chuyển đổi cho khách hàng nhằm ngăn cản khách hàng chuyển sang giao dịch với đối thủ...

- Hành vi định giá huỷ diệt: Định giá huỷ diệt là việc các doanh nghiệp eó quyền lực thị trường ấn định giá bán sản phẩm quá thấp ttong khoảng thời gian đủ dài nhàm loại bỏ đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường hoặc (và) ngăn cản không cho các đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường. Sau khi hoàn tất mục đích ngăn cản hoặc loại bỏ, doanh nghiệp này sẽ tăng giá một cách đáng kể nhằm bù đắp lại các khoản lỗ và các khoản lợi nhuận đã bỏ qua bởi mức độ cạnh tranh trên thị trường đã bị giảm?

- Hành vi chi phối giá thị trường: Khác với hành vi định giá huỷ diệt, chi phối giá thị trường là việc doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền đã khai thác lợi thế độc quyền hoặc thống lĩnh của mình để đặt ra mức giá bán cao hơn mức giá cạnh tranh hoặc chèn ép giá mua xuống thấp hơn giá mua cạnh tranh. Hành vi này có thể xảy ra trong mọi loại giao dịch mà doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền tham gia như quan hệ mua hoặc quan hệ bán sản phẩm. Mục đích của hành vi này là thu lợi nhuận độc quyền thông qua việc áp đặt các mức giá mua hoặc giá bán bất lợi cho khách hàng.

- Hành vi chi phối các yếu tố khác của thị trường như chi phối cung cầu, đặt ra các hạn chế đối với khách hàng như hạn chế về địa điểm bán lại, hạn chế về khách hàng mua lại... Hành vi này được thực hiện với mục đích khai thác vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền nhằm mục đích làm mất cân đối cung cầu, hoặc đặt ra các điều khoản hạn chế kinh doanh để chi phổi giao dịch với khách hàng. Thông qua việc chi phối giao dịch với khách hàng, doanh nghiệp có thể thực hiện các chiến lược hỗ trợ kinh doanh cho doanh nghiệp liên kết hoặc cho hoạt động kinh doanh ở thị trường thứ cấp hoặc nhằm thu lợi nhuận độc quyền.

- Hành vi phân biệt giá là hành vi của doanh nghiệp độc quyền hoặc thống lĩnh áp dụng các mức giá khác nhau tuỳ theo khách hàng mà không dựa vào sự chênh lệch về chi phí. Vọi việc phân biệt giá, doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao hơn bằng cách áp dụng mức giá khác nhau theo khả năng chi trả của từng nhóm khách hàng hoặc tính một mức giá duy nhất cho mọi khách hàng. Để phân biệt giá thành công, doanh nghiệp phải có khả năng chi phối giá thị trường; xác định rõ những nhóm khách hàng khác nhau có khả năng trả các giá khác nhau và ngăn chặn sự thông đồng mua hàng.

- Hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ là việc doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp có vị trí độc quyền khai thác lợi thế cạnh tranh mà đối tượng sở hữu trí tuệ đem lại để áp đặt các điều kiện giao dịch bất lợi cho khách hàng nhằm trục lợi hoặc thực hiện những hành vi cản trở việc gia nhập thị trường của doanh nghiệp khác, loại doanh nghiệp khác ra khỏi thị trường.

3. Yếu tố cơ bản của cạnh tranh?

Thứ nhất, khách hàng thường xuyên. Đây là đối tượng và cũng là mục tiêu mà tất cả các bên tham gia cạnh tranh đều hướng tới thu hút, lôi kéo. Trong luật cạnh tranh, khách hàng còn được gọi với các tên khác nhau như ‘‘người tiêu dùng’’ hoặc ‘‘người sử dụng’’.

Thứ hai, các bên tham gia cạnh tranh (chủ yếu là các doanh nghiệp). Muốn có cạnh tranh thì đương nhiên phải có ít nhất là 02 chủ thể trở lên là đối thủ của nhau. Nếu không có đối thủ, hay nói cách khác là tình trạng độc quyền, thì cạnh tranh không thể diễn ra.

Thứ ba, một môi trường cạnh tranh nó chính là nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh chỉ có thể diễn ra trong môi trường kinh tế và tự do kinh doanh được thừa nhận như là những quyền cơ bản của công dân tuy nhiên cũng phải có giới hạn.

Thứ tư, thị trường liên quan. Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng, giá cả...

4. Bản chất của cạnh tranh?

Cạnh tranh là khái niệm rất rộng, xuất hiện trong hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, từ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, thể thao... và có khá nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về cạnh tranh.

Shelby D.Hunt, giáo sư nổi tiếng người Mỹ từng đưa ra định nghĩa về cạnh tranh: Cạnh tranh là quá trình gây mất cân bằng liên tục, trong đó các công ty vật lộn với nhau để tranh giành lợi thế so sánh về chi phí nguồn lực sản xuất, hoặc lợi thế cạnh tranh về giá trị tiêu dùng

Trong nền kinh tế, bản chất của cạnh tranh như sau:

- Quá trình cạnh tranh giữa các đối thủ diễn ra trên thị trường

- Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường để giành giật khách hàng

5. Vai trò của cạnh tranh?

- Đối với doanh nghiệp: Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp do khả năng cạnh tranh tác động đến kết quả tiêu thụ mà kết quả tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định trong việc doanh nghiệp có nên sản xuất nữa hay không. Cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Cạnh tranh quyết định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường thông qua thị phần của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.

- Đối với người tiêu dùng: Nhờ có cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mà người tiêu dùng có cơ hội nhận được những sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng với chất lượng và giá thành phù hợp với khả năng của họ.

- Đối với nền kinh tế: Cạnh tranh là động lực phát triển của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Cạnh tranh là biểu hiện quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Cạnh tranh là điều kiện giáo dục tính năng động của nhà doanh nghiệp bên cạnh đó góp phần gợi mở nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuất hiện của các sản phẩm mới. Điều này chứng tỏ chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên cạnh tranh cũng dẫn tới sự phân hoá giàu nghèo có thể dẫn tới xu hướng độc quyền trong kinh doanh.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật cạnh tranh, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật cạnh tranh - Công ty luật Minh Khuê