Thưa luật sư. Em có thắc mắc liên quan đến nguồn của luật hình sự mong được luật sư giải đáp cụ thể ạ. Theo em được biết có nhiều loại nguồn luật hình sự. Vậy có thể phân loại các loại nguồn của luật hình sự như thế nào ạ? Rất mong nhận được tư vấn của luật sư. Em xin chân thành cảm ơn! (Đoàn Nguyên - TP.HCM)
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Nguồn luật hình sự là gì?
Nguồn luật hình sự Việt Nam là phương thức tồn tại của luật hình sự Việt Nam, là hình thức bên ngoài chứa đựng nội dung, đồng thời là hình thức xác định phạm vi giới hạn của luật hình sự Việt Nam về không gian, thời gian và đối tượng chịu tác dộng trong một giai đoạn lịch sử cụ thể
2. Phân loại nguồn luật hình sự
2.1. Nguồn chính thức và nguồn không chính thức
Cách phân loại nguồn luật hình sự Việt Nam đầu tiên là chia nguồn luật hình sự thành hai loại: nguồn chính thức và nguồn không chính thức. Đặt vấn đề phân loại nguồn luật hình sự thành hai loại chính thức và không chính thức là căn cứ vào một số quy định có tính nguyên tắc trong Phần chung của Bộ luật hình sự và vào thực tiễn pháp lý giải quyết các vụ án hình sự hiện nay.
Tìm hiểu thực chất cách phân loại này, cần thiết phải làm rõ được ý nghĩa của các từ “chính thức”, “không chính thức” trong hai khái niệm “nguồn chính thức” và “nguồn không chính thức” của luật hình sự. Luật hình sự, nếu diễn đạt theo cách đơn giản nhất là luật về tội phạm và hình phạt, hay nói cách khác, luật về vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Luật hình sự điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện hành vi mà Nhà nước coi là tội phạm. Luật hình sự như thế, phản ánh thái độ, cách xử sự (sự phản ứng) của Nhà nước trước hành vi phạm tội. Những thái độ, cách xử sự hay sự phản ứng này phải được thể hiện dưới dạng các tuyên bố chính thức của công quyền. Những nguồn nào của luật hình sự chứa đựng “các tuyên bố chính thức của công quyền” về những hành vi bị cấm (hành vi phạm tội) cũng như về các chế tài dự kiến sẽ áp dụng đối với người vi phạm những điều cấm đó sẽ được xem là nguồn chính thức của luật hình sự. Với quan niệm này về nguồn chính thức của luật hình sự, theo phương pháp loại trừ, có thể hiểu nguồn không chính thức của luật hình sự là nguồn không trực tiếp quy định về tội phạm, hình phạt, trách nhiệm hình sự nhưng có liên quan, có ý nghĩa bổ sung, hỗ trợ cho việc giải quyết vấn đề tội phạm và trách nhiệm hình sự đôì vối người phạm tội.
Nguồn chính thức của luật hình sự có các đặc điểm cơ bản sau đây:
1) Chứa đựng những tuyên bố chính thức của Nhà nước về những hành vi bị coi là tội phạm, về giới hạn của những hành vi đó và chế tài dự kiến áp dụng đối vối những tội phạm đã quy định;
2) Là sự biểu thị ý chí và quyền lực của Nhà nước trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng biện pháp pháp luật hình sự;
3) Là căn cứ pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vận dụng để giải quyết các vụ án hình sự diễn ra trong thực tế.
Tuân thủ những quy tắc pháp lý nêu trong nguồn chính thức của luật hình sự được xem là tuân thủ pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Trong mối quan hệ với nguồn chính thức, nguồn không chính thức của luật hình sự bao gồm toàn bộ những hình thức chứa đựng nội dung luật hình sự ngoài các nguồn chính thức nêu trên. Về phương diện lý luận cũng như thực tiễn, không nên đặt nguồn chính thức lên trên nguồn không chính thức để từ đó đi đến kết luận rằng nguồn không chính thức giữ vai trò không quan trọng. Có những văn bản pháp luật thuộc nguồn không chính thức, chẳng hạn như Hiến pháp, còn được coi là luật cơ bản của Nhà nước, có tính chất nền tảng cho toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung. Với ý nghĩa tương tự như vậy, các điều ước quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự (chẳng hạn, Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia mà Việt Nam là thành viên tham gia từ năm 2000...), mặc dù không được áp dụng trực tiếp ở Việt Nam nhưng vị trí, vai trò, ảnh hưởng của nó đến sự phát triển nguồn chính thức của luật hình sự Việt Nam là điều không thể phủ nhận.
Trong từng thời kỳ lịch sử, do ảnh hưởng của các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trong thời kỳ đó, nguồn chính thức của luật hình sự Việt Nam luôn có sự vận động, thay đổi. Xác định nguồn chính thức của luật hình sự Việt Nam hiện nay, cần dựa vào hai tiêu chí cơ bản như đã trình bày là các quy định Phần chung của Bộ luật hình sự và thực tiễn pháp lý giải quyết các vụ án hình sự. Điều 2 Bộ luật hình sự hiện hành quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”; Điều 8 Bộ luật hình sự hiện hành quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự...”; Điều 23 Bộ luật hình sự hiện hành quy định: “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này (Bộ luật hình sự hiện hành) quy định...”; Điều 26 Bộ luật hình sự hiện hành quy định: “Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự...”; Điều 63 Bộ luật hình sự hiện hành quy định: “Người bị kết án được xoá án tích theo quy định tại các điều từ Điều 64 đến Điều 67 của Bộ luật này (Bộ luật hình sự hiện hành)”...Với một loạt các điều luật nêu trên, nhà làm luật Việt Nam khẳng định:
- Tội phạm, hình phạt và các biện pháp trách nhiệm hình sự khác áp dụng đôi với người phạm tội phải được quy định trong Bộ luật hình sự.
- Chỉ có Bộ luật hình sự là văn bản duy nhất quy định về tội phạm, hình phạt và các biện pháp trách nhiệm hình sự áp dụng đối với người phạm tội.
Mặt khác, theo tinh thần Điều 103 Hiến pháp năm 2013: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” cũng như căn cứ vào Điều 45 Bộ luật hình sự hiện hành: “Khi quyết định hình phạt, toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự...”, trong thực tiễn đấu tranh chống tội phạm, ở giai đoạn xét xử, cơ quan Toà án (Hội đồng xét xử) chỉ viện dẫn các điều luật của Bộ luật hình sự như là căn cứ pháp lý duy nhất để kết luận một người là có tội hay không có tội, nếu có tội thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự trong phạm vi và với mức độ cụ thể nào.
Điều trình bày trên cho thấy quan điểm của nhà lập pháp Việt Nam (đồng thời cũng là quan điểm của Nhà nước Việt Nam) khẳng định Bộ luật hình sự là nguồn chính thức và thậm chí là nguồn chính thức duy nhất của luật hình sự Việt Nam hiện nay. Các nguồn khác của luật hình sự ngoài Bộ luật hình sự đều chỉ là nguồn không chính thức. Ý tưởng cơ bản của nhà làm luật Việt Nam là muốn tạo ra một văn bản hoàn thiện thống nhất, tập trung quy định toàn bộ những vấn đề liên quan đến tội phạm và trách nhiệm hình sự của người phạm tội, một bộ pháp điển duy nhất điều chỉnh một cách đầy đủ, toàn diện mọi quan hệ xã hội trong lĩnh vực luật hình sự. Tuy nhiên, Bộ luật hình sự, mặc dù có những ưu điểm nổi bật nhưng bản thân nó cũng mang những yếu điểm không thể tránh khỏi của mọi văn bản quy phạm pháp luật nói chung. Để bổ khuyết cho những “lỗ hổng” của Bộ luật hình sự (nguồn chính thức), người ta phải dùng đến các nguồn khác - nguồn không chính thức của luật hình sự Việt Nam.
2.2. Nguồn trực tiếp và nguồn gián tiếp
Cách phân loại nguồn luật hình sự Việt Nam thứ hai là chia nguồn luật hình sự thành nguồn trực tiếp và nguồn gián tiếp. Căn cứ để phân chia hai loại nguồn này là phương thức phản ánh nội dung luật hình sự của từng loại nguồn. Nguồn trực tiếp là nguồn chứa đựng các quy phạm pháp luật hình sự về tội phạm, hình phạt và các vấn đề khác liên quan đến việc giải quyết trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Nguồn gián tiếp là nguồn không chứa đựng các quy phạm pháp luật hình sự song là cơ sở để làm rõ nội dung các quy phạm pháp luật hình sự, mà chủ yếu là làm rõ nội dung các cấu thành tội phạm. Chẳng hạn, quy định của Bộ luật hình sự về các tội phạm ma tuý - Chương XVIII, là nguồn trực tiếp của luật hình sự bởi vì chương này quy định các hành vi liên quan đến ma tuý bị coi là tội phạm đồng thời cũng quy định hình phạt áp dụng cho các tội phạm về ma tuý. Tuy nhiên, để xác định chính xác đối tượng tác động của tội phạm là ma tuý thì cần phải dựa vào Luật phòng, chống ma tuý năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2008) và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này, trong đó đặc biệt quan trọng là Nghị định sô 67/2001/NĐ-CP ngày 01-10-2001 của Chính phủ quy định danh mục các chất ma tuý và các tiền chất ma tuý ở Việt Nam (đã được các nghị định sô 53/2003/NĐ-CP, 133/2003/NĐ-CP, 163/2007/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung).
Bản thân Luật phòng, chống ma tuý và các văn bản hướng dẫn thi hành không trực tiếp quy định tội phạm ma tuý song những quy định của các văn bản này là cơ sở quan trọng để xác định tội phạm về ma tuý do đó là nguồn gián tiếp của luật hình sự. Với ý nghĩa tương tự như vậy, Luật giao thông đường bộ, Luật hàng không dân dụng, Luật đường sắt, Luật giao thông đường thuỷ nội địa, Luật hải quan, Luật phòng cháy và chữa cháy, Luật chứng khoán, Luật các tổ chức tín dụng, Luật bảo vệ môi trường, v.v. cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành những luật này đều có thể được coi là nguồn gián tiếp của luật hình sự Việt Nam. Các điều ước quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia là nguồn gián tiếp mang tính đặc thù của luật hình sự Việt Nam bởi mặc dù bản thân các điều ước này, tuy có quy định về tội phạm và hình phạt song các quy định đó chỉ có thể áp dụng ở Việt Nam sau khi đã được nội luật hoá qua các quy định của Bộ luật hình sự (nguồn trực tiếp), về bản chất, quy định trong các điều ước quốc tế thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự, xét trên phương diện nguồn luật, cũng chỉ có ý nghĩa làm rõ các quy định trong nội luật Việt Nam (nếu như đã được nội luật hoá) hoặc định hướng cho việc bổ sung, hoàn thiện nội luật Việt Nam.
Quan hệ giữa nguồn trực tiếp và nguồn gián tiếp của luật hình sự phản ánh mối quan hệ giữa luật hình sự với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như giữa nội luật Việt Nam với các cam kết quốc tế của Nhà nước Việt Nam thể hiện trong các điểu ước quốc tế song phương hoặc đa phương mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Luật hình sự, xét đến cùng cũng chỉ là một bộ phận trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Với chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội, luật hình sự được xem là “chế tài” bảo đảm môi trường lành mạnh cho sự phát triển bình thường của các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các ngành luật khác. Nói cách khác, sự điều chỉnh của luật hình sự thường diễn ra trên nền sự điều chỉnh của các ngành luật khác và diễn ra sau sự điều chỉnh của các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật. Những hành vi mà luật hình sự quy định là tội phạm, về thực chất, là những hành vi vi phạm quy định của các ngành luật khác, phá hoại trật tự pháp luật tạo dựng nên bởi các ngành luật khác với tính chất và mức độ nguy hiểm cao, cần thiết phải bị trừng phạt với biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt. Đây chính là cơ sở thực tiễn để nhà làm luật, khi quy định tội phạm trong Bộ luật hình sự, sử dụng kỹ thuật viện dẫn. Với kỹ thuật này, trong một số trường hợp, nhà làm luật thường chỉ xác định: “tội phạm là hành vi vi phạm các quy định về..,”. Để xác định cụ thể nội dung của các tội phạm này, rõ ràng cần phải căn cứ vào các văn bản pháp luật chuyên ngành trong các lĩnh vực của đời sống xã hội mà Nhà nước đã ban hành. Với cách tiếp cận như vậy, việc xem xét nguồn luật hình sự không chỉ căn cứ vào những văn bản trực tiếp quy định về tội phạm, hình phạt (nguồn trực tiếp) mà còn phải căn cứ vào những nguồn khác - nguồn gián tiếp của luật hình sự Việt Nam.
Nội hàm khái niệm “nguồn trực tiếp” của luật hình sự rộng hơn khái niệm “nguồn chính thức”, bởi nguồn chính thức của luật hình sự Việt Nam hiện hành chỉ giới hạn ở một văn bản duy nhất là Bộ luật hình sự. Ngoài Bộ luật hình sự, nguồn trực tiếp của luật hình sự Việt Nam còn bao gồm các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự, "án lệ" (thực tiễn tư pháp) và lý thuyết khoa học luật hình sự. Trên một phương diện nào đó, có thể nói, nguồn trực tiếp là nguồn của luật hình sự theo đúng nghĩa của nó. Nguồn gián tiếp của luật hình sự, thực chất, là nguồn của những ngành luật khác nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nội dung luật hình sự. Nguồn gián tiếp của luật hình sự cũng phản ánh nội dung của luật hình sự song đó là sự phản ánh với phương thức “gián tiếp” do cách tiếp cận mang tính kỹ thuật của nhà soạn luật Việt Nam.
2.3. Nguồn thành văn và nguồn không thành văn
Việc phân chia nguồn luật hình sự Việt Nam thành hai loại: nguồn thành văn và nguồn không thành văn trên cơ sở tư duy lý luận pháp luật truyền thống ảnh hưởng bởi pháp luật châu Âu lục địa. Theo lối tư duy này, pháp luật có các nguồn cơ bản là luật thành văn, tập quán pháp, tiền lệ pháp và học thuyết pháp lý. Trong lĩnh vực luật hình sự, tập quán pháp không đóng vai trò là một dạng của nguồn luật hình sự Việt Nam. Loại trừ tập quán pháp, để việc nghiên cứu có tính cách tập trung hơn, người viết tách các loại nguồn luật hình sự còn lại thành hai loại là nguồn thành văn và nguồn không thành văn.
Tiếp cận các loại nguồn luật hình sự theo phương hướng này, trước hết cần làm rõ các khái niệm “thành văn” và “không thành văn”. Khái niệm luật thành văn (droit écrit) được dùng tương đối phổ biến trong các tài liệu nước ngoài cũng như trong một số tài liệu Việt Nam. Có tác giả Việt Nam không dùng khái niệm luật thành văn mà dùng khái niệm luật viết với ý nghĩa tương tự. Theo sự diễn giải của các tài liệu này, khái niệm luật thành văn hay luật viết được sử dụng với hàm nghĩa để chỉ tất cả các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ở Việt Nam, luật thành văn (nguồn thành văn) bao gồm tất cả các hình thức văn bản quy phạm pháp luật, từ Hiến pháp, bộ luật, luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, v.v. theo quy định của Hiến pháp và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Luật không thành văn (nguồn không thành văn) là các hình thức pháp luật khác ngoài luật thành văn.
Thực ra, luật không thành văn không phải là thứ luật không được thể hiện dưối dạng văn bản bằng ngôn ngữ viết. Việc sử dụng các thuật ngữ “thành văn” hay “không thành văn” chẳng qua chỉ phản ánh những nguồn gốc xa xưa của pháp luật khi mà luật còn tồn tại dưới hai dạng: luật viết bằng văn bản (trên các vật liệu vật chất như tre, gỗ, khắc vào đá hay bảng đồng) với luật truyền khẩu trong dân gian (các tập quán). Thuật ngữ luật không thành văn, như thế, dùng để chỉ những thứ luật không xuất phát từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm luật, hay nói cách khác, không được các cơ quan này ban hành ra theo thẩm quyền. Luật không thành văn là luật được thừa nhận từ phía công quyền, cũng có hiệu lực áp dụng như luật thành văn (với thứ tự ưu tiên áp dụng sau luật thành văn theo truyền thông pháp luật của các nước châu Âu lục địa và các quốc gia khác có ảnh hưởng bởi hệ thống luật này) và cũng được bảo đảm thực hiện từ phía Nhà nước.
Ở Việt Nam, nguồn luật hình sự thành văn bao gồm Bộ luật hình sự, các văn bản giải thích, hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự, các điều ước quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, các văn bản quy phạm pháp luật khác chứa đựng trực tiếp hoặc gián tiếp các nội dung của luật hình sự về các vấn để tội phạm, hình phạt và các vấn đề khác liên quan đến việc giải quyết trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Nguồn luật hình sự thành văn, như thế, bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật trong cả nguồn trực tiếp và nguồn gián tiếp của luật hình sự hiện hành.
Nguồn không thành văn của luật hình sự bao gồm "án lệ" (thực tiễn tư pháp) và học thuyết (lý thuyết) khoa học luật hình sự. Nếu như việc xác định nguồn luật hình sự thành văn tương đối dễ dàng và có cơ sở pháp lý - thực tiễn thì việc làm rõ vấn đề nguồn không thành văn lại tương đối phức tạp và còn có nhiều ý kiến khác nhau. Theo thông lệ quốc tế thì “án lệ là tập hợp những quyết định của Toà án đối với những tình huống không được, quy định trong luật hoặc được quy định không rõ ràng. Một quyết định xét xử trở thành án lệ khi quyết định đó đưa ra cách giải quyết mới đối với một điểm gây tranh cãi trong luật. Những quyết định của Toà án dưới dạng này tồn tại không phải quá hiếm trong thực tiễn pháp lý ở Việt Nam nếu như ta nghiên cứu các bản án giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, có một thực tế khác cũng rất cần được xem xét, đó là, ở Việt Nam hiện nay, không có một văn bản nào, dù là văn bản pháp luật của Nhà nước hay thậm chí là văn bản của Đảng khẳng định sự tồn tại cũng như hiệu lực pháp lý của án lệ đối với việc giải quyết vụ án hình sự. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02-6-2005 về chiến lược cải cách tư pháp cũng chỉ nhắc đến việc Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ phát triển án lệ như một trong những phương hướng có tính chất tương lai của vấn đề cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
Nói đến "án lệ" là nói đến những quyết định của Toà án đưa ra cách giải quyết (phương án giải quyết) mới cho một tình huống pháp lý trong các bản án cụ thể của Toà án. Do vậy, việc coi các bản tổng kết (lời tổng kết) kinh nghiệm xét xử hay các công văn giải đáp thắc mắc của Toà án nhân dân tối cao là án lệ rõ ràng là điều cần phải bàn và phải tiếp tục nghiên cứu thêm. Bởi lẽ vai trò của các loại “nguồn” này đối với thực tiễn tư pháp Việt Nam là rất đáng kể. Vấn đề ở chỗ nên và cần thiết phải có một cơ chế mang tính chất chính thức không chỉ để thừa nhận mà quan trọng hơn là đo lường mức độ, khả năng áp dụng cũng như hiệu quả của loại nguồn này, bởi cho đến nay, ngoài Bộ luật hình sự, mọi nguồn khác, dù thành văn hay không thành văn đều chỉ là những nguồn không chính thức của luật hình sự Việt Nam.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "phân loại các nguồn luật hình sự". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập