Trước đây, các hành vi vi phạm cạnh tranh nghiêm trọng có thể bị xem xét xử lý theo tội danh chung chung là "Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng" tại Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Sự thay đổi này cho thấy một xu hướng rõ rệt: chuyển từ việc xử lý các vi phạm kinh tế một cách tổng quát, thiếu tính chuyên biệt sang việc hình sự hóa một cách cụ thể, có chọn lọc và mang tính chuyên môn cao hơn đối với các hành vi vi phạm đặc thù trong từng lĩnh vực. Việc bãi bỏ tội "Cố ý làm trái..." và thay thế bằng các tội danh chuyên biệt như Điều 217 BLHS 2015 đã tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc hơn, rõ ràng hơn để bảo đảm điều kiện bình đẳng cho các chủ thể kinh tế tham gia thị trường. Đồng thời, điều này cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về việc xác định, đánh giá và chứng minh các yếu tố cấu thành tội phạm một cách chính xác theo các quy định riêng của điều luật.

Tội vi phạm quy định về cạnh tranh là những hành vi thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận; thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan 30% trở lên thuộc một trong các trường hợp: thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, nguồn cung dịch vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng ̣(Khoản 1 Điều 217 Bộ Luật hình sự) do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý.

 

1. Các yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về cạnh tranh

1.1. Khách thể của tội phạm

Khách thể của Tội vi phạm quy định về cạnh tranh là trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực cạnh tranh. Cụ thể, các hành vi phạm tội đã xâm phạm đến các quy định của pháp luật về cạnh tranh nhằm đảm bảo một môi trường kinh doanh công bằng và bình đẳng. Bên cạnh đó, khách thể còn bao gồm hoạt động kinh doanh hợp pháp của các doanh nghiệp và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng. Khách thể này khác biệt hoàn toàn với các tội xâm phạm sở hữu (như lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm), vì nó không nhằm chiếm đoạt tài sản cụ thể của một cá nhân hay tổ chức, mà là xâm phạm một quy tắc chung của nền kinh tế.

1.2. Mặt khách quan của tội phạm

1.2.1. Hành vi khách quan

Mặt khách quan của tội danh này được thể hiện thông qua một trong ba nhóm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sau đây :

Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm: Hành vi này thể hiện qua việc các doanh nghiệp thỏa thuận với nhau để ngăn cản, kìm hãm một doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh.

Thỏa thuận loại bỏ doanh nghiệp: Hành vi các bên thỏa thuận để loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là thành viên của thỏa thuận.

Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: Hành vi này xảy ra khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên. Các trường hợp thỏa thuận bị nghiêm cấm bao gồm:

  • Ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
  • Phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
  • Hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ.
  • Hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư.
  • Áp đặt cho doanh nghiệp khác các điều kiện ký kết hợp đồng hoặc buộc họ chấp nhận nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.

1.2.2. Hậu quả

Hậu quả là một dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm này, vì đây là tội phạm có cấu thành vật chất. Hành vi vi phạm chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi gây ra hậu quả thiệt hại hoặc thu lợi bất chính đạt đến một ngưỡng định lượng cụ thể. Cụ thể, hậu quả phải thuộc một trong các trường hợp sau :

  • Gây thiệt hại cho người khác từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.
  • Hoặc thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng.

Việc quy định rõ các ngưỡng định lượng này đóng vai trò là ranh giới pháp lý để phân biệt giữa vi phạm hành chính và vi phạm hình sự. Hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính nhiều lần, nhưng chỉ khi hậu quả vượt quá một ngưỡng nhất định mới bị hình sự hóa. Điều này đảm bảo rằng pháp luật hình sự chỉ can thiệp khi hành vi đã thực sự gây ra tác động tiêu cực đáng kể đến trật tự kinh tế.

1.2.3. Mối quan hệ nhân quả

Cần phải chứng minh một cách rõ ràng và trực tiếp rằng hậu quả thiệt hại hoặc thu lợi bất chính là kết quả của hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đã được thực hiện. Việc này đòi hỏi một quá trình điều tra, thu thập và phân tích chứng cứ phức tạp để kết nối hành vi bí mật với những con số thiệt hại cụ thể trên thị trường.

1.3. Chủ thể của tội phạm

Cá nhân: Chủ thể của tội danh này là người có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Về độ tuổi, người phạm tội phải từ đủ 16 tuổi trở lên. Tương tự như các tội phạm khác, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này vì đây không phải là tội đặc biệt nghiêm trọng. Trong thực tiễn, chủ thể cá nhân thường là những người giữ chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp hoặc hiệp hội ngành nghề, là những người trực tiếp đưa ra quyết định hoặc tham gia vào các thỏa thuận vi phạm.

Pháp nhân thương mại: Bộ luật Hình sự 2015 đã bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, và Điều 217 là một trong những điều luật áp dụng đối với chủ thể này. Pháp nhân thương mại có thể là chủ thể của tội phạm này khi hành vi được thực hiện nhân danh tổ chức, vì lợi ích của tổ chức và có sự chỉ đạo, đồng ý của các cá nhân có thẩm quyền. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là một bước tiến pháp lý quan trọng. Tội vi phạm quy định về cạnh tranh thường là hành vi của cả một tổ chức, chứ không chỉ là hành vi cá nhân đơn lẻ. Khi quy định pháp nhân phải chịu trách nhiệm, pháp luật có thể xử lý triệt để hơn, tạo ra sự răn đe mạnh mẽ hơn đối với toàn bộ tổ chức, ngăn chặn hành vi tái phạm một cách hiệu quả. Điều này phù hợp với thông lệ quốc tế trong việc xử lý tội phạm kinh tế.

1.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Tức là người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là hành vi không được phép nhưng vẫn muốn thực hiện hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc dù không mong muốn nhưng vẫn có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

Động cơ và mục đích không phải dấu hiệu bắt buộc của tội phạm. Thông thường người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội này vì vụ lợi hoặc muốn củng cố vị thế của mình trên thị trường và giữa được thị phần vốn có của mình.

 

2. Khung hình phạt đối với tội vi phạm quy định về cạnh tranh

Điều 217 Chương XVIII Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định tội vi phạm quy định về cạnh tranh như sau:

“Điều 217. Tội vi phạm quy định về cạnh tranh

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây gây thiệt hại cho người khác từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;

b) Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận;

c) Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan 30% trở lên thuộc một trong các trường hợp: thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

c) Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền;

d) Thu lợi bất chính 3.000.000.000 đồng trở lên;

đ) Gây thiệt hại cho người khác 5.000.000.000 đồng trở lên.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;

c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.”

Điều 217 Bộ luật Hình sự quy định 04 Khung hình phạt đối cá nhân và 03 Khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội như sau:

2.1. Hình phạt đối với cá nhân phạm tội

- Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây gây thiệt hại cho người khác từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;

b) Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận;

c) Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan 30% trở lên thuộc một trong các trường hợp: thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

c) Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền;

d) Thu lợi bất chính 3.000.000.000 đồng trở lên;

đ) Gây thiệt hại cho người khác 5.000.000.000 đồng trở lên.

- Khung hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

2.2. Hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội

- Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

- Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;

- Khung hình phạt bổ sung: Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

2.3. Các tình tiết định khung tăng nặng

Các tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại Khoản 2 Điều 217 BLHS, áp dụng khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau :

  • Phạm tội 02 lần trở lên.
  • Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt.
  • Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền.
  • Thu lợi bất chính 3.000.000.000 đồng trở lên.
  • Gây thiệt hại cho người khác 5.000.000.000 đồng trở lên.

Hình phạt: Phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

 

3. Phân biệt với các tội danh khác

Tội "Kinh doanh trái phép" (Điều 159 BLHS 1999): Mặc dù tội danh này đã bị bãi bỏ, việc so sánh cho thấy sự thay đổi trong cách tiếp cận của pháp luật hình sự. Tội danh cũ xâm phạm trật tự quản lý kinh doanh nói chung, trong khi Điều 217 nhắm vào các quy định về cạnh tranh nói riêng, thể hiện tính chuyên biệt và cụ thể hóa của pháp luật.

Các tội xâm phạm sở hữu (Điều 174, 175 BLHS): Tội danh tại Điều 217 có bản chất khác biệt. Khách thể của nó là trật tự quản lý kinh tế, còn khách thể của các tội lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm là quyền sở hữu cụ thể của cá nhân hoặc tổ chức. Hành vi phạm tội cũng khác nhau, một bên là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, một bên là dùng thủ đoạn gian dối hoặc lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản.

3.1. So sánh giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự

Dưới đây là bảng so sánh chi tiết các tiêu chí phân biệt giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự trong lĩnh vực cạnh tranh:

Tiêu chí So sánh Vi phạm Hành chính (Luật Cạnh tranh 2018) Tội phạm Hình sự (Điều 217 BLHS 2015)
Căn cứ pháp lý Luật Cạnh tranh 2018 Điều 217 Bộ luật Hình sự 2015
Chủ thể vi phạm Tổ chức, cá nhân Cá nhân và Pháp nhân thương mại
Mức độ Hậu quả Vi phạm các quy định về cạnh tranh, gây hậu quả không đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Gây thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng trở lên.
Thẩm quyền xử lý Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự (Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án)
Hình phạt áp dụng Phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép, tịch thu tang vật, đình chỉ hoạt động có thời hạn. Phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù, đình chỉ hoạt động.

3.2. Mối liên kết và sự tương quan giữa điều 217 BLHS và Luật cạnh tranh 2018

Điều 217 BLHS 2015 và Luật Cạnh tranh 2018 có mối liên kết chặt chẽ và tương hỗ. Luật Cạnh tranh là cơ sở để xác định một hành vi là "vi phạm quy định về cạnh tranh", trong khi BLHS là công cụ để xử lý hình sự các hành vi đó khi chúng đạt đến mức độ nguy hiểm đặc biệt nghiêm trọng. Mối quan hệ này có thể được xem là mối quan hệ giữa "hành vi vi phạm" và "hành vi phạm tội," trong đó "hành vi phạm tội" là một tập hợp con có mức độ nguy hiểm cao hơn rất nhiều.

Tiêu chí phân biệt mấu chốt giữa hai loại vi phạm này không nằm ở bản chất của hành vi mà là ở mức độ của hậu quả mà hành vi đó gây ra. Luật Cạnh tranh tập trung vào các vi phạm hành chính và xử phạt tiền để răn đe, trong khi Điều 217 BLHS chỉ áp dụng khi các vi phạm vượt qua ngưỡng thiệt hại từ 1 tỷ đồng hoặc thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên. Sự phụ thuộc này tạo ra một "ranh giới vàng" giữa xử lý hành chính và hình sự. Tuy nhiên, sự phụ thuộc này cũng bộc lộ một điểm yếu đáng kể: nếu việc xác định, định giá thiệt hại và thu lợi bất chính đã phức tạp ở cấp độ hành chính, thì việc chứng minh các con số khổng lồ để đạt đến ngưỡng hình sự sẽ càng khó khăn hơn gấp bội. Điều này là một trong những yếu tố giải thích cho thực trạng hiếm khi có án hình sự về tội danh này.

 

4. Thực tiễn xét xử và vấn đề án lệ

4.1. Tình trạng án lệ và bản án thực tế về tội danh điều 217 BLHS

Mặc dù Điều 217 BLHS 2015 đã có hiệu lực từ lâu, thực tế tìm kiếm các bản án, án lệ công khai về tội danh này cho thấy một khoảng trống lớn. Các tài liệu tra cứu không cung cấp được bất kỳ bản án hình sự nào đã được Tòa án nhân dân xét xử và công bố về "Tội vi phạm quy định về cạnh tranh". Dữ liệu hiện có về Điều 217 đều thuộc các bộ luật khác như Bộ luật Tố tụng Dân sự hoặc Bộ luật Tố tụng Hình sự, không liên quan đến tội phạm hình sự trong lĩnh vực cạnh tranh.

Sự thiếu vắng các bản án, án lệ không phải là một sự thất bại trong việc tìm kiếm thông tin, mà bản thân nó là một dữ liệu thực tế mang tính quan trọng. Nó cho thấy tội danh này, dù đã được quy định, vẫn chưa được thực thi hoặc ít nhất là chưa có trường hợp nào đạt đến giai đoạn xét xử công khai. Đây là một lỗ hổng đáng chú ý trong thực thi pháp luật. Về mặt lý thuyết, việc có một tội danh cụ thể trong BLHS cho phép nhà nước can thiệp mạnh mẽ để bảo vệ thị trường, nhưng trên thực tế, công cụ pháp lý này dường như chưa được sử dụng. Điều này đặt ra câu hỏi về các rào cản trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, đặc biệt là những thách thức liên quan đến việc định lượng hậu quả và thu lợi bất chính.

Trong khi các vụ án hình sự không được ghi nhận, dữ liệu từ Cục Quản lý cạnh tranh (nay là Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia) cho thấy đã có hơn 100 vụ việc liên quan đến vi phạm pháp luật cạnh tranh bị điều tra và xử lý hành chính. Trong số đó, đã có 5 vụ việc liên quan đến các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền, vị trí thống lĩnh hoặc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đã bị xử phạt hành chính với mức tiền lên tới hàng tỷ đồng.

Việc xử lý hành chính hàng trăm vụ việc cho thấy pháp luật cạnh tranh đang được thực thi ở mức độ nhất định, nhưng chỉ dừng lại ở ngưỡng hành chính. Mức phạt tiền lớn trong các vụ việc này cho thấy các vi phạm đã gây ra hậu quả đáng kể, nhưng có thể chưa đủ để vượt qua ngưỡng định lượng khổng lồ để chuyển sang xử lý hình sự. Thực tế này một lần nữa củng cố nhận định rằng có một ranh giới rõ ràng và đầy thách thức trong việc chuyển đổi một vụ việc vi phạm hành chính thành một vụ án hình sự.

4.2. Khó khăn và vướng mắc trong thực tiễn

Thứ nhất : Thách thức trong việc xác định "Hậu quả nghiêm trọng" và "Thu lợi bất chính" việc xác định "hậu quả nghiêm trọng" hoặc "thu lợi bất chính" là một trong những thách thức lớn nhất trong việc áp dụng Điều 217 BLHS. Điều luật yêu cầu một ngưỡng định lượng cụ thể (thiệt hại từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên) để cấu thành tội phạm.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc chứng minh và định lượng chính xác các con số này là cực kỳ phức tạp và khó khăn. Các hành vi vi phạm quy định cạnh tranh thường tinh vi, gây ra những loại thiệt hại khó có thể quy đổi thành tiền một cách trực tiếp, chẳng hạn như mất thị phần, giảm uy tín thương hiệu, hoặc triệt tiêu động lực đổi mới của các đối thủ. Tương tự, việc xác định "thu lợi bất chính" cũng gặp nhiều trở ngại, do các khoản lợi này thường được che giấu dưới nhiều hình thức khác nhau trong hệ thống tài chính phức tạp của các doanh nghiệp. Hiện tại, chưa có một văn bản hướng dẫn cụ thể nào về phương pháp tính toán, định giá thiệt hại và thu lợi bất chính trong các vụ việc này, tạo ra một rào cản lớn đối với cơ quan tố tụng hình sự. Điều này giải thích tại sao nhiều vụ việc vi phạm nghiêm trọng có thể chỉ bị xử lý hành chính, làm giảm hiệu lực răn đe của luật hình sự.

Thứ hai:  Vai trò và Cơ chế phối hợp của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (VCC) Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (VCC) là một cơ quan thuộc Bộ Công Thương, có chức năng tiến hành tố tụng cạnh tranh, kiểm soát tập trung kinh tế và giải quyết khiếu nại. VCC đóng vai trò là "cửa ngõ" đầu tiên của các vụ việc cạnh tranh, hoạt động như một cơ quan hành chính-bán tư pháp. Bộ máy giúp việc của VCC bao gồm Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh và các Ban Thư ký, có quyền phát hiện, xác minh và đánh giá các thông tin, chứng cứ vi phạm.

Mặc dù VCC chỉ có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 03/2023/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định rõ VCC có quyền "phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình điều tra, xử lý các hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh có dấu hiệu của tội phạm". Đây là mối liên kết thủ tục quan trọng giữa hệ thống xử lý hành chính và tố tụng hình sự. Tuy nhiên, sự thiếu vắng án hình sự cho thấy quy trình phối hợp này có thể còn chưa thông suốt hoặc các vi phạm thực tế chưa đủ nghiêm trọng để kích hoạt cơ chế này. Việc chưa có tiền lệ chuyển đổi một vụ việc hành chính sang hình sự cũng gây khó khăn cho VCC trong việc xác định các dấu hiệu cần thiết để kiến nghị khởi tố.

Thứ ba:  Trách nhiệm Hình sự của pháp nhân thương mại việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là một chính sách hình sự hoàn toàn mới và tiến bộ, được đưa vào BLHS 2015. Điều 217 BLHS là một trong 33 tội danh mà một pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thực hiện hành vi nhân danh, vì lợi ích của mình và có sự chỉ đạo, chấp thuận của pháp nhân.

Các hình phạt chính áp dụng đối với pháp nhân thương mại bao gồm phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Ngoài ra, pháp nhân còn có thể phải chịu các hình phạt bổ sung như cấm kinh doanh, cấm huy động vốn. Tuy nhiên, việc áp dụng các hình phạt này tiềm ẩn những rủi ro lớn. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng hình phạt "đình chỉ hoạt động" có thể gây ra hậu quả tiêu cực cho những người lao động không có lỗi trong hành vi phạm tội của pháp nhân. Điều này đặt ra một bài toán khó cho cơ quan tư pháp trong việc cân bằng giữa mục tiêu răn đe pháp nhân và bảo vệ quyền lợi của người lao động và lợi ích xã hội liên quan.

Thứ tư : Đánh giá sự nhất quán và các điểm còn tồn tại về mặt cấu trúc và lý thuyết, pháp luật Việt Nam đã xây dựng một hệ thống khá nhất quán và liên kết giữa Luật Cạnh tranh và BLHS. Luật Cạnh tranh đóng vai trò là văn bản chuyên ngành, quy định các hành vi vi phạm, trong khi BLHS xác định ngưỡng hình sự hóa cho các hành vi đó dựa trên mức độ nguy hiểm và hậu quả.

Tuy nhiên, tồn tại một khoảng cách đáng kể giữa quy định và thực thi. Các điểm còn tồn tại lớn nhất bao gồm:

  • Thách thức chứng minh: Ranh giới pháp lý giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự, được xác định bằng các ngưỡng định lượng về hậu quả và thu lợi bất chính, mặc dù rõ ràng trên văn bản nhưng lại rất khó khăn trong thực tế. Các hành vi trong nền kinh tế số ngày càng tinh vi và xuyên biên giới, gây khó khăn cho việc thu thập chứng cứ và định giá thiệt hại.
  • Khoảng trống án lệ: Việc thiếu vắng các bản án hình sự đã tạo ra một khoảng trống pháp lý lớn. Không có tiền lệ để các cơ quan tiến hành tố tụng tham khảo, gây khó khăn cho việc áp dụng và thống nhất cách xử lý các vụ việc tương tự trong tương lai.
  • Năng lực thực thi: Để đảm bảo sự chuyển đổi từ xử lý hành chính sang hình sự được hiệu quả, cần nâng cao năng lực chuyên môn của các cơ quan có thẩm quyền, từ Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đến các cơ quan tố tụng hình sự.

 

5. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Kiến nghị 1: Ban hành văn bản hướng dẫn cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về phương pháp tính toán, định giá thiệt hại và thu lợi bất chính. Điều này sẽ cung cấp cơ sở pháp lý rõ ràng cho các cơ quan điều tra và Tòa án, giảm bớt sự tùy nghi trong việc xác định các yếu tố cấu thành tội phạm.

Kiến nghị 2: Nâng cao năng lực chuyên môn cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu về pháp luật cạnh tranh và kinh tế cho các cán bộ, điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán. Điều này giúp họ có khả năng nhận diện, điều tra và xét xử các vụ án phức tạp trong lĩnh vực này.

Kiến nghị 3: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền các cơ quan chức năng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về cạnh tranh để nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng về tầm quan trọng của cạnh tranh lành mạnh và các hậu quả pháp lý khi vi phạm.

Kiến nghị 4: Cập nhật pháp luật nghiên cứu và điều chỉnh các quy định pháp luật để đối phó hiệu quả hơn với các thách thức mới từ nền kinh tế số, nơi các hành vi vi phạm cạnh tranh ngày càng trở nên tinh vi và khó kiểm soát.

Kết luận

Tội vi phạm quy định về cạnh tranh tại Điều 217 Bộ luật Hình sự 2015 là một tội danh quan trọng, thể hiện sự quyết liệt của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ trật tự quản lý kinh tế và môi trường kinh doanh lành mạnh. Việc hình sự hóa các hành vi này là một bước tiến quan trọng, giúp tăng cường tính răn đe và bảo vệ các chủ thể kinh doanh, người tiêu dùng một cách hiệu quả.

Tuy nhiên, việc áp dụng đúng đắn, công bằng và nghiêm minh tội danh này trong thực tiễn vẫn còn nhiều thách thức, chủ yếu xoay quanh việc thu thập chứng cứ, định lượng thiệt hại và thu lợi bất chính. Để tội danh này thực sự phát huy vai trò, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tố tụng và các chuyên gia, đồng thời khắc phục những vướng mắc pháp lý hiện có. Về lâu dài, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật là hướng đi then chốt để đảm bảo rằng các quy định của pháp luật hình sự về cạnh tranh không chỉ mang tính lý thuyết mà còn thực sự được áp dụng hiệu quả trong đời sống kinh tế.