1. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia

Cơ quan nhà nước thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật cạnh tranh, ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có trách nhiệm yêu cầu cơ quan nhà nước chấm dứt hành vi vi phạm và khắc phục hậu quả.

Cơ quan nhà nước được yêu cầu phải chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật khi thực hiện các hành vi sau gây cản trở cạnh tranh trên thị trường:

- Ép buộc, yêu cầu, khuyến nghị doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện hoặc không thực hiện việc sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng, sử dụng dịch vụ cụ thể hoặc mua, bán hàng hóa, cung ứng, sử dụng dịch vụ với doanh nghiệp cụ thể, trừ hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước hoặc trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật;

- Phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp;

- Ép buộc, yêu cầu, khuyến nghị các hiệp hội ngành, nghề, tổ chức xã hội - nghề nghiệp khác hoặc các doanh nghiệp liên kết với nhau nhàm hạn chế cạnh tranh trên thị trường;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để can thiệp trái pháp luật vào hoạt động cạnh tranh.

2. Chủ tịch ủy ban Cạnh tranh Quốc gia

Trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi bị cấm quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật cạnh tranh năm 2018 (cung cấp thông tin, vận động, kêu gọi, ép buộc hoặc tổ chức để doanh nghiệp thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh), Chủ tịch ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có các thẩm quyền sau đây:

- Phạt cảnh cáo;

- Phạt tiền với mức phạt tiền tối đa là 200.000.000 đồng;

- Áp dụng biện pháp:

+ Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh;

+ Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm;

+ Cải chính công khai;

+ Các biện pháp cần thiết khác để khắc phục tác động của hành vi vi phạm.

- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền;

Đối với hành vi vi phạm quy định về tập trung kinh tế, Chủ tịch ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có các thẩm quyền sau:

- Phạt cảnh cáo;

- Phạt tiền: Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm quy định về tập trung kinh tế là 05% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trêh thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm;

- Áp dụng biện pháp:

+ Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh;

+ Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.

+ Cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền;

+ Chia, tách, bán lại một phần hoặc toàn bộ vốn góp, tài sản của doanh nghiệp hình thành sau tập trung kinh tế;

+ Chịu sự kiểm soát của cơ quan nhà nựớc có thẩm quyền về giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các điều kiện giao dịch khác trong hợp đồng của doanh nghiệp hình thành sau tập trung kinh tế;

+ Các biện pháp cần thiết khác để khắc phục tác động của. hành vi vi phạm.

- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp:

+ Thu hồi giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp hoặc văn bản tương đương, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề;

+ Cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền.

Đối với hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh và các hành vi vi phạm khác (không thuộc trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 113), Chủ tịch ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có các thẩm quyền sau:

- Phạt cảnh cáo;

- Phạt tiền tiền tối đa đối với hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh là 2.000.000.000 đồng và phạt tiền tối đa đối với hành vi khác vi phạm quy định của Luật cạnh tranh là 200.000.000 đồng.

- Áp dụng biện pháp:

+ Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vỉ phạm pháp luật về cạnh tranh;

+ Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.

+ Cải chính công khai;

+ Các biện pháp cần thiết khác để khắc phục tác động của hành vi vi phạm.

- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp thu hồi giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp hoặc vãn bản tương đương, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

3. Hội đồng xử lí vụ việc hạn chế cạnh tranh

Trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi bị cấm quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật cạnh tranh (cung cấp thông tin, vận động, kêu gọi, ép buộc hoặc tổ chức để doanh nghiệp thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh) Hội đồng xử lí vụ việc hạn chế cạnh tranh có các thẩm quyền sau:

- Phạt cảnh cáo;

- Phạt tiền với mức phạt tiền tối đa là 200.000.000 đồng;

- Áp dụng biện pháp:

+ Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh;

+ Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm;

+ Cải chính công khai;

+ Các biện pháp cần thiết khác đế khắc phục tác động của hành vi vi phạm.

- Yêu câu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền.

Đối với hành vi vi phạm quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền, Hội động xử lí vụ việc hạn chế cạnh tranh có các thẩm quyền sau:

- Phạt cảnh cáo;

- Phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền là 10% tổng doanh thu của doanh nghiệp có hành vi vi phạm trên thị trường hên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm, nhưng thấp hơn mức phạt tiền thấp nhất đối với các hành vi vi phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự;

- Áp dụng biện pháp:

+ Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh;

+ Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.

+ Cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền;

+ Loại bỏ điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng, thỏa thuận hoặc giao dịch kinh doanh;

+ Chia, tách, bán lại một phần hoặc toàn bộ vốn góp, tài sản của doanh nghiệp hình thành sau tập trung kinh tế;

+ Chịu sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các điều kiện giao dịch khác trong hợp đồng của doanh nghiệp hình thành sau tập trung kinh tế;

+ Cải chính công khai;

+ Các biện pháp cần thiết khác để khắc phục tác động của hành vi vi phạm.

- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp:

+ Thu hồi giấy chứng nhận đãng kí doanh nghiệp hoặc văn bản tương đương, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề;

+ Cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền.

4. Cơ quan có thẩm quyền khác

Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cẩm (quy định tại khoãn 7 Điều 45 của Luật cạnh ttanh năm 2018) mà trong các luật chuyên ngành có quy định về việc xử lí khác với quy định của Luật cạnh tranh được xử lí theo quy định của luật đó (Xem: Khoản 2 Điều 4 Luật cạnh tranh năm 2018).

Như vậy, cơ quan có thẩm quyền khác là cơ quan có thẩm quyền xử lí hành vi cạnh ttanh không lành mạnh bị cấm theo quy định của luật khác có liên quan (các luật chuyên ngành), như: Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, Luật thương mại năm 2005, Luật quảng cáo...

Mọi vướng mắc liên quan đến luật canh tranh, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được luật sư tư vấn pháp luật cạnh tranh trực tuyến qua tổng đài điện thoại.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật cạnh tranh - Công ty luật Minh Khuê