1. Cơ sở pháp lý

Theo quy định tại điểm b khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 27 Luật cạnh tranh 2018 hành vi ấn định giá bán tối thiểu được quy định cụ thể như sau:

"Điều 27. Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm

1. Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện hành vi sau đây:

a) Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ đối thủ cạnh tranh;

b) Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây ra hoặc có khả năng gây ra thiệt hại cho khách hàng;

c) Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây ra hoặc có khả năng gây ra thiệt hại cho khách hàng;

d) Áp dụng điều kiện thương mại khác nhau trong các giao dịch tương tự dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia, mở rộng thị trường hoặc loại bỏ doanh nghiệp khác;

đ) Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác trong ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc yêu cầu doanh nghiệp khác, khách hàng chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia, mở rộng thị trường hoặc loại bỏ doanh nghiệp khác;

e) Ngăn cản việc tham gia hoặc mở rộng thị trường của doanh nghiệp khác;

g) Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm theo quy định của luật khác.

2. Doanh nghiệp có vị trí độc quyền thực hiện hành vi sau đây:

a) Hành vi quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này;

b) Áp đặt điều kiện bất lợi cho khách hàng;

c) Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng;

d) Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm theo quy định của luật khác."

2. Biểu hiện của hành vi ấn định giá

Thứ nhất, biểu hiện của hành vi trên thực tế là sự tăng giá của sản phẩm trên thị trường liên quan.

Thứ hai, sự tăng giá nói trên là không hợp lí.

Nói cách khác, hiện tượng tăng giá xảy ra khi mức cầu của hàng hoa - dịch vụ đó trên thị trường không tăng đột biến vượt quá năng lực sản xuất hoặc công suất thiết kể của doanh nghiệp và không có biến động bất thường làm tăng giá thành sản xuất của hàng hoá, dịch vụ.

Thứ ba, thiệt hại mà khách hàng phải gánh chịu là mức giá bị tăng lên không căn cứ hợp lí.

Phần tăng thêm sẽ làm tăng thu nhập của doanh nghiệp cũng chính là lợi ích mà họ bóc lột được từ khách hàng. Ngoài ra, thực tế còn cho thấy rằng việc tăng giá hàng hoá, dịch vụ còn có thể gây ra những xáo frộn trong đời sống kinh tế-xã hội, nhất là khi sản phẩm bị tăng giá là những sản phẩm có vai trò thiết yếu trong thị trường như xăng dầu, điện, nước...

Kinh nghiệm của các nước cho thấy, hành vi áp đặt giá bán bất hợp lí được mô tả là hành vi ấn định mức giá cao một cách vô lí. Do đó, để kết luận về hành vi vi phạm, trước hết cơ quan cạnh tranh sẽ xác định một mức giá đúng có thể chấp nhận được dựa vào chi phí sản xuất và tình hình thị trường (đương nhiên việc xác định giầ đúng không phải là công việc đơn giản) và đem so sánh với giá bán sản phẩm thực tế. Nếu giá bán thực tế quá cao so với mức giá chuẩn đó thì có thể kết luận là có dấu ' hiệu của sự vi phạm; sau nữa, mức giá mà doanh nghiệp áp đặt là bất hợp lí. Sự bất họp lí trong giá cả đã bị áp đặt thể hiện thông qua mức chênh lệch giữa giá “đúng” (mức hợp lí) và giá cả thực tế mà khách hàng phải trả. Mức chênh lệnh không chỉ phản ánh sự bất hợp lí về giá c.ả mà còn thể hiện bản chất bóc lột của hành vi. Cuối cùng, cơ quan cạnh tranh sẽ xem xét những lí do dẫn đến việc giá bán quá cao như do chi phí tăng lên hoặc do nhu cầu tăng... Mặt khác, các nhà hoạch định chính sách cạnh tranh khuyến cáo việc ngăn cấm hành vi định giá cao cần phải lưu ý khả năng cơ quan cạnh tranh có thể điều tiết sâu vào quan hệ thị trường, bởi giá cả thể hiện khả năng tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường và lợi nhuận lại có vai trò tạo động cơ cho việc gia nhập hay rút khỏi thị trường. Khi đó, nhà nước lạm dụng quy định này để điều tiết giá cả có thể làm cho vai trò trên của lợi nhuận bị vô hiệu. Cách tiếp cận này mới thực sự diễn tả đúng về hành vi áp đặt giá bán bất họp lí gây thiệt hại cho khách hàng.

3. Xác định giá cấu thành hợp lý

Với hành vi định giá bán quá cao theo cách tiếp cận của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (gọi tắt là OECD) thì vấn đề quan trọng nhất được đặt ra khi xác định hành vi là tính toán chính xác mức hợp lí của giá hàng hoá, dịch vụ để làm căn cứ kết luận về tính hợp lí hay không của mức giá đã bị lạm dụng. Những lắt léo và chi tiết của các nguồn tài chính trong kinh doanh của doanh nghiệp đã đặt ra cho cơ quan nhà nước nhiều khó khăn khó vượt qua trong việc bóc tách chi phí để tìm một mức giá đúng cần phải áp dụng cho khách hàng. Đối với hành vi áp đặt giá, cơ quan nhà nước cần xác lập mức giá hợp lí bằng phương pháp tạo lập một mức giá cấu thành. Mức giá cấu thành bao gồm các khoản chi phí cho việc sản xuất và phân phối, tiêu thụ sản phẩm, ngoài ra còn có cả mức lợi nhuận hợp lí. Có một số điểm cần lưu ý khi xác lập giá cấu thành hợp lí là:

1) Các thông số về chi phí được sử dụng phải là những thông số hợp lí, tức là không có sự hoang phí trong việc sử dụng nguyên, nhiên vật liệu đồng thời trong những hoàn cảnh của những giao dịch mà ở đó mức co giãn chi phí (đặc biệt là chi phí trong phân phối) là đáng kể thì cần có những tính toán hợp lí với những thay đổi đó;

2) Những số liệu tìm được phải có sự so sánh với chi phí chung của thị trường - nếu như có đối thủ cạnh tranh. Trong việc xác định giá cấu thành hợp lí, chi phí sản xuất sản phẩm tương tự của đối thủ cạnh tranh khó được sử dụng do sự khác nhau thói quen kinh doanh và sẽ là không công bằng cho doanh nghiệp bị điều tra vì khả năng sử dụng nguyên, nhiên vật liệu để sản xuất sản phẩm là khác nhau. Do đó, sự so sánh được thực hiện chỉ để góp phần xác định tính hợp lí của chi phí được sử dụng; 3) Mức lợi nhuận hợp lí trong giá cấu thành được xác định cụ thể bởi cơ quan cạnh tranh tuỳ theo từng ngành nghề, với điều kiện cụ thể của thị trường khi vụ việc xảy ra.

>> Xem thêm:  Vị trí thống lĩnh thị trường là gì ? Quy định về vị trí thống lĩnh thị trường

4. Hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu gây ra hoặc có khả năng gây ra thiệt hại cho khách hàng

Hành vi ấn định giá bán lại phản ánh mối quan hệ giữa doanh nghiệp thuộc ngành trên (doanh nghiệp sản xuất hoặc doanh nghiệp bán sỉ) với các doanh nghiệp thuộc ngành dưới (doanh nghiệp phân phối, doanh nghiệp bán lẻ), theo đó doanh nghiệp thuộc ngành trên áp đặt một mức giá bán lại đối với sản phẩm buộc doanh nghiệp thuộc ngành dưới phải tuân thủ khi phân phối, tiêu thụ sản phẩm đó. Kinh tế học cũng coi hành vi định giá bán lại là một dạng của thoả thuận về giá nhưng lại có những dấu hiệu đặc thù.

1) Trước hết, ấn định giá bán lại là một thoả thuận dọc giữa nhà sản xuất với người phân phối sản phẩm của họ;

2) giá bán lại là kết quả của sự áp đặt của nhà sản xuất đối với người phân phối. Nói cách khác, trong biểu hiện của hành vi này khuyết đi yếu tố tự nguyện, tự do ý chí của doanh nghiệp phân phối. Vì vậy, có ý kiến cho rằng ấn định giá bán lại không là một thoả thuận vì một bên trong quan hệ này đã không có khả năng lựa chọn một mức giá khác ngoài mức đã được đối tác ấn định. Quan điểm coi hành vi này có dấu hiệu của sự thoả thuận dựa trên lập luận cho rằng nhà phân phối vẫn có quyền lựa chọn tham gia hay không tham gia việc phân phối sản phẩm của doanh nghiệp với mức giá đã được đưa ra. Vì vậy, ở trường họp này, vẫn có sự chấp nhận của người phân phối, vì thế đã tồn tại một thoả thuận giữa các doanh nghiệp. Cách thức ấn định giá bán lại rất đa dạng, có thể bao gồm: ấn định giá bán lại tối thiểu; ấn định giá tối đa (có thể kết hợp cả hai tức là định khung giá - tối thiểu và tổi đa); hoặc đưa ra một mức giá cố định, mức giá gợi ý.

Dưới góc độ kinh tế, việc ấn định mức giá bán lại có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp sản xuất. Thông qua mức giá được ấn định, các doanh nghiệp đảm bảo được sự ổn định và thống nhất giá trong phạm vi thị trường đồng nhất (không có khác biệt lớn về chi phí phân phối, lưu thông); đảm bảo cho sự hoạt động phối họp hiệu quả giữa những đại lí hoặc nhà phân phối nằm trong mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, tránh tình trạng tiêu diệt lẫn nhau của các đại lí làm thu hẹp mạng lưới phân phối mà doanh nghiệp đã nỗ lực xây dựng; ngăn chặn các hành vi của những nhà phân phối bán hàng với giá thấp để tiêu thụ sản phẩm khác; hoặc những hành vi bán lỗ để thu hút khách hàng từ phía những nhà phân phối lớn.... Trong thực tế thị trường hiện nay, nhiều doanh nghiệp đang thực hiện việc ấn định giá bán cho tất cả các đại lí trên phạm vi một vùng thị trường xác định.

Ví dụ: Các sản phẩm hoá mĩ phẩm của P&G được công ti xác định giá ngay trên bao bì sản phẩm nhà phân phối chỉ có thể tiêu thụ sản phẩm với mức giá được xác định cụ thể. Cách thức đó còn ngăn chặn những hành vi lừa dối, nói thách của các cửa hàng tiêu thụ để lừa dối khách hàng.

Như vậy, việc ấn định giá bán lại không đương nhiên vi phạm pháp luật cạnh tranh. Pháp luật của hầu hết các nước đều không ngăn cấm hành vi ấn định giá nếu như chưa thoả mãn các điều kiện luật định. Luật cạnh tranh của Việt Nam xếp hành vi ấn định giá bán lại vào nhóm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh.

Căn cứ vào quy định trên, việc định giá bán lại của doanh nghiệp chỉ bị coi là vi phạm khi thoả mãn những điều kiện về cách thức ấn định giá và hậu quả của hành vi đối với khách hàng.

Điều kiện thứ nhất, giá bán lại được ấn định ở mức tối thiểu. Tức là việc khống chế không cho phép các nhà phân phối, các nhà bán lẻ bán lại hàng hoá thấp hơn mức giá đã quy định trước. Với hành vi này, các nhà phân phối chỉ được lựa chọn mức giá cao hơn mức giá đã được ấn định khi bán sản phẩm cho khách hàng mà không còn cơ hội để hạ giá sản phẩm.

Điều kiện thứ hai, hành vi ấn định giá bán lại tôi thiểu gây thiệt hại cho khách hàng. Trong kinh doanh, việc thuyết phục các nhà phân phối tăng hoặc giảm giá sản phẩm không là hành vi bất hợp pháp. Do đó, hành vi định giá bán lại sản phẩm không phải lúc nào cũng đáng bị lên án và có khả năng gâynguy hại cho thị trường, cho dù là định giá bán lại tối thiểu. Như đã phân tích, việc định giá bán lại tối thiểu có thể là nằm trong chiến lược xây dựng và phát triển mức giá sản phẩm thống nhất, ổn định và’ lành mạnh ttên thị trường. Chiến lược giá kiểu này phù hợp với những doanh nghiệp có những nhà phân phối lớn, phân phối nhiều loại sản phẩm tương tự nhau. Theo đó, để ngăn chặn mọi hành vi bán hàng hoá với giá thấp để thu hút khách hàng hoặc để tạo thế độc quyền trong phân phối sản phẩm, doanh nghiệp sản xuật phải áp dụng chiến lược đặt giá tối thiểu cho những nhà phân phối.

>> Xem thêm:  Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có vi phạm luật sở hữu trí tuệ không ?

Điều kiện thứ ba, hành vi định giá mang tính áp đặt. Luật cạnh tranh sử dụng cụm từ định giá bán lại tối thiểu để mô tả về tính áp đặt của hành vi lạm dụng. Kinh nghiệm của một số quốc gia như Anh, Hoa Kỳ, Thụy Điển, Canada... khi quy định về hành vi duy trì giá bán tối thiểu đều yêu cầu phải có dấu hiệu của sự ép buộc trực tiếp hay gián tiếp của doanh nghiệp thuộc ngành trên đối với các doanh nghiệp thuộc ngành dưới. Theo quan điểm của các nhà lập pháp Canada, những nỗ lực của doanh nghiệp trong việc thuyết phục nhà phân phối tăng hoặc hạn chế giảm giá không phải là sự vi phạm. Bởi lẽ trong thực tế, các doanh nghiệp thường xuyên cung cấp cho hệ thống phân phối sản phẩm của mình thông tin về diễn biến của thị trường cũng như những dự báo về thị trường trong tương lai để- từ đó đưa ra gợi ý về chiến lược giá cả, những hành vi như vậy về mặt kinh tế đem lại nhiều hiệu quả trong kinh doanh cho các doanh nghiệp và sự thống nhất của hệ thống phân phối sản phẩm. Mặt khác, một khi sự gợi ý chưa mang bản chất của sự áp đặt, tức là các nhà phân phối còn có khả năng lựa chọn khác không theo mức giá mà các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền áp đặt thì đương nhiên hành vi gợi ý mức giá tối thiểu không bị coi là lạm dụng. Lúc này quyền lựa chọn của nhà phân phối đã ràng buộc trách nhiệm của nhà phân phối với mức giá mà họ lựa chọn, chứ không ràng buộc trách nhiệm cho doanh nghiệp chỉ đề xuất gợi ý.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật cạnh tranh, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật cạnh tranh - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Điều tra vụ việc cạnh tranh theo thủ tục tố tụng cạnh tranh ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp có phải là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh không?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật Cạnh tranh 2018 thì Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Câu hỏi: . Thỏa thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện ký kết hợp đồng có được xem là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh không?

Trả lời:

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật Cạnh tranh 2018: "Thỏa thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng" được xem là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Câu hỏi: Nhà nước kiểm soát doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước bằng các biện pháp nào?

Trả lời:

Tại Điều 28 Luật Cạnh tranh 2018 quy định:

Điều 28. Kiểm soát doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước

1. Nhà nước kiểm soát doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước bằng các biện pháp sau đây:

a) Quyết định giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước;

b) Quyết định số lượng, khối lượng, phạm vi thị trường của hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước;

c) Định hướng, tổ chức các thị trường liên quan đến hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Khi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước thực hiện hoạt động kinh doanh khác ngoài lĩnh vực độc quyền nhà nước thì hoạt động kinh doanh đó của doanh nghiệp không chịu sự điều chỉnh quy định tại khoản 1 Điều này nhưng vẫn chịu sự điều chỉnh của quy định khác của Luật này.