Phân tích Cảnh vượt thác trong Người lái đò sông Đà chọn lọc hay nhất

Bài tùy bút Người lái đò sông Đà là một trong những tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Tuân được in trong tập Sông Đà (1960). Viết bài tùy bút này, Nguyễn Tuân tự thấy mình là người đi tìm cái vàng thứ mười của sắc màu sông núi Tây Bắc và đặc biệt là cái vàng thứ mười có sẵn trong tâm thức của mọi người hôm nay thiết tha gắn bó với đất nước Việt Nam. Công việc xây dựng cho Tây Bắc tươi sáng hơn, hạnh phúc hơn và lâu bền hơn. Một vạn đồng vàng của ông này là người lái đò sông Đà. Điều này được khắc họa một cách ấn tượng với tình cảm mạnh mẽ thông qua màn đóng thế “có một không hai”.

Bằng ngòi bút tài hoa và quan niệm thẩm mỹ về cái đẹp, Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hình tượng người lính lậu, một hình tượng nghệ thuật độc đáo, quyến rũ. Hình tượng người buôn lậu được nhà văn xây dựng qua công việc hàng ngày. Nguyễn Tuân không đặt tên cụ thể cho nhân vật mà lấy nghề để gọi, từ đây ta thấy nhà văn không chỉ nói đến người buôn lậu mà còn nói đến những người lao động khác ở Tây Bắc nói riêng và cả nước nói chung. nói chung là những con người sống rất lặng lẽ và giản dị, nhưng hàng ngày không ngừng cống hiến cho đất nước. Hình ảnh người lái đò hiện lên với một dáng vẻ thấm đượm mùi sông nước, gắn liền với nghề “tay khua như sào, chân khum như nắm bánh lái tưởng tượng, giọng nói khỏe như sào vượt thác lũ sông”. , đôi mắt như đang nhìn về một bến xa.” Đặc biệt trên ngực ông có rất nhiều “củ nâu” là dấu tích của những tháng ngày đánh vật với sông Đà mà Nguyễn Tuân hóm hỉnh so sánh với “những tấm huân chương lao động thượng hạng”.

Người lái đò không phải là người hiền lành, ngược lại thích đối mặt với nguy hiểm, khó khăn, với những pha hành động gay cấn nên thích băng qua những ghềnh thác khó khăn của sông Đà. Tuy tuổi cao nhưng ông vẫn còn một tâm hồn trẻ trung, cường tráng và bản chất dũng cảm, niềm tin yêu cuộc sống, tâm huyết với nghề và sông Đà hùng vĩ, công việc của ông nghiễm nhiên trở thành niềm đam mê bất diệt. , một niềm vui trong cuộc sống lao động vất vả của anh. Dòng sông Đà trong lòng người lái đò như một bản anh hùng ca mà ông đã thuộc lòng, đồng thời tinh thông binh pháp “thần sông, thần núi”, giống như vị tướng tài sử dụng binh pháp Tôn Tử một cách hoàn hảo. "để biết kẻ thù của kẻ thù". biết ta, trăm trận trăm thắng”, chẳng khác nào một nghệ sĩ chuyên nghiệp hiểu rõ mặt trận nghệ thuật gian khổ mà mình theo đuổi gần hết cuộc đời. Chỉ với những nét khắc họa ấy, hình tượng người lái đò của Nguyễn Tuân đã để lại ấn tượng sâu sắc, ấn tượng trong lòng người đọc.

Đoạn trích vượt thác tập trung khắc họa hình ảnh người lái đò tài giỏi, dũng cảm trong cuộc chiến trên biển vượt qua ba con vi trùng trên sông Đà. Đầu tiên, trong trận dịch đầu tiên, đứng trước trận địa sẵn sàng là sông Đà, người lái đò đã dũng cảm nghênh chiến. Chiến trường này gồm bốn cửa tử, chỉ có một cửa sinh nằm bên tả ngạn. Ở đây nước hòa vào tiếng hò reo là doanh trại, chúng như những con búp bê xù xì, chúng “khỏe mạnh, uy nghi, hùng vĩ, một hòn đảo dường như xin thuyền đặt tên cho mình. Trước khi xung trận và thách thức thuyền giỏi, hãy gần hơn." Ở các từ: Gào thét, kiên quyết, oai phong, hiên ngang... người đọc cảm nhận được không khí của trận chiến căng thẳng, hồi hộp và kịch tính. Đây là biệt tài của Nguyễn Tuân trong thuật tùy bút.

Lũ đá sông Đà rất khôn ngoan, chúng không chỉ đánh giáp lá cà mà còn bằng nghệ thuật tâm lý chiến. Trước đây, tiếng thác ghềnh cũng đã từng gây “tiếng nhại”, có khi “gầm như tiếng trâu ngàn”. Và bây giờ họ dựa vào "thác làm thanh cho đá". Với bản tính hung hãn như thủy quái, sông Đà đã tấn công vào đầu người lái đò bằng những đòn vô cùng hiểm hóc, có sự chuẩn bị công phu. Sông Đà ỷ vào quân đông tướng mạnh nên chúng “ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”, chúng “liều mạng vào sát nách mà đá trái”, “thúc gối vào bụng và hông thuyền”, đôi khi "đội cả thuyền lên". . Hàng loạt động từ được Nguyễn Tuân huy động để miêu tả cảnh đập sông Đà khiến người đọc không khỏi rùng mình trước sự tàn bạo của thiên nhiên.

Bị tấn công bất ngờ bằng nhiều thủ đoạn, người lái đò vẫn không nao núng, ngược lại, ông bình tĩnh xông trận sông Đà. Với chiến thuật phòng thủ để ăn những vi trùng đang tới, "người chèo thuyền ngăn không cho mái chèo của mình bị hất ra khỏi sóng." Đó là kinh nghiệm quý báu trên chiến trường sông nước, bởi chỉ có giữ được thăng bằng con thuyền mới có thể vào đúng khúc sông. Lúc này sông Đà đã thay đổi thế chiến đấu, cô vồ thuyền và dùng thế giằng co “nắm thắt lưng người lái đò đòi quay lại”. Không cho người lái đò có cơ hội xoay xở, dòng sông Đà đổi thế tung đòn hiểm nhất, “cả dòng nước mù mịt siết chặt hạ bộ người lái đò”. Bám vào một miếng đòn hiểm, mắt ngước lên, ngỡ “một cửa nổ đom đóm đã ùa vào thắp sóng”. Nỗi đau khiến kẻ buôn lậu "méo mặt". Chính sự biến dạng do lạnh của nước làm nhăn nheo cộng thêm một trận đòn đau khiến khuôn mặt khách sông Đà tái nhợt, đần độn. Cụm động từ “đánh tới đánh lui, đánh mạnh, giáng đòn hiểm vào chỗ hiểm” gợi đòn tấn công chớp nhoáng, quyết tâm hành hạ kẻ đặt bẫy khiến hắn phải bó tay. Nhưng người lái đò đã nén nỗi đau, bằng kinh nghiệm và lòng dũng cảm của mình, giọng nói vẫn bình tĩnh, tỉnh táo và cao vút ra lệnh cho sáu tay chèo còn lại qua cửa tử đến cửa sinh. Miêu tả về giọng nói ngắn gọn mà dũng cảm của người lái đò, Nguyễn Tuân không giấu được sự khâm phục, khâm phục trước sự gan dạ, dũng cảm và bình tĩnh của người lái đò.

Nếu như ở đoạn đầu, Nguyễn Tuân tập trung miêu tả trận đánh một chiều từ sông Đà thì ở đoạn tiếp theo, nhà văn tập trung miêu tả trận đánh từ khách sông Đà bằng sự thông minh, linh hoạt và tài dũng cảm, thác đổ phi thường. . Ngày thứ hai, dường như sau khi bị người lái đò hạ gục, sông Đà càng hung bạo hơn. Nó trưng bày một “bộ cửa tử” gồm vô số cửa tử chờ phục kích để bắt thuyền và giết chết thuyền trong khi cửa sinh được bố trí băng qua hữu ngạn, cố gắng loại bỏ đường thoát của người lái đò. Sông Đà tiếp tục sử dụng uy thế của mình để tung ra một đội quân hùng mạnh: “Thác báo gấm chảy trên sông đá”. Cách so sánh, liên tưởng độc đáo, đánh đồng thác nước với một loài thú dữ, có sức mạnh ghê gớm, đáng cảnh giác. Dòng sông trở thành “sông đá” khiến dòng chảy càng dữ dội, dữ dội.

So với vòng đầu tiên, vòng này khó hơn, nhưng không vì thế mà có thể dập tắt tinh thần của người lái đò. Với kinh nghiệm mười mấy năm trên chiến trường sông nước, người tài xế “nắm vững binh pháp của thần sông, thần đá, thuộc giới phục kích của đá”. Người lái đò cũng tự triết lý với mình rằng “cưỡi đến thác sông Đà thì cưỡi hổ đến cùng”, nên “không phút nghỉ ngơi, phải phá vòng vây thứ hai, đổi chiến thuật. Trong trận này, ông đã cưỡi thuyền đi đánh trước với kế sách đánh nhanh thắng nhanh. Như một tay đua ngựa, “chộp lấy bờm sóng, người lái đò nắm lấy dây cương, nắm chắc cho đúng dòng chảy”. Sông Đà lúc này như một con ngựa bất kham, nhưng người lái đò vẫn cố gắng điều khiển, rồi bất ngờ “thằng” tăng tốc, “tiến về cổng đá” với tốc độ nhanh, nhịp độ nhanh, thần thái nhanh. sức mạnh, không do dự, tận dụng tốt thời gian có hạn. 

Chặng thứ ba là cơ hội cuối cùng để Sông Đà thử tài lái đò, ngã rẽ cuối cùng giữa hai thế lực. Hạt giống này ít cửa hơn, nhưng trái và phải đều chết, dòng sông nằm ngay giữa các hậu vệ. Có thể nói, trận đánh này, sông Đà đã dùng thế “trên đe dưới búa” để dồn người lái đò vào thế “tiến thoái lưỡng nan”, nhưng “trong cái khó ló cái khôn”, người lái đò đã biến mất. chèo vào một mũi tên, và anh ta giống như một cung thủ. Trận này phải dùng sách lược “đánh nhanh thắng nhanh”. Anh nhanh trí “đưa thuyền thẳng qua cửa giữa. Con thuyền lướt qua cánh cửa mở, cánh đóng, lững lờ, cửa ngoài, cửa trong, cửa trong cùng. Con thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động bẻ lái và lướt đi. Thế đấy.” Hàng loạt động từ được sử dụng để miêu tả lối đánh của ông lái đò: “ném, đâm, xuyên, xuyên nhanh, bẻ lái, bay lượn..” kết hợp phép đối “cánh. mở, đóng cửa”, “cửa ngoài, cửa trong, cửa trong”, tiếng “vút” tạo tốc độ trong cách đánh. Cuối cùng, lối đánh nhanh và nhanh giúp người lái đò hạ gục những con bọ đầy mầm bệnh. Thật vậy, như Phan Huy Đống đã từng nhận xét “Đọc Người lái đò sông Đà, người ta cảm nhận rõ nét sự tự do của một tài năng, một nhà sáng tạo đích thực trong nghệ thuật ngôn từ”. Đến đây, người lái đò đã buộc người viết, người đọc và có lẽ cả đội quân đá sông Đà phải hoàn toàn tuân theo. Ông trổ hết tài nghệ, thể hiện trình độ lái điêu luyện, dày dặn và thượng thừa như chạy đua với thiên nhiên. Đó thực sự là một tay lái hoa, một nghệ sĩ chèo thuyền vượt thác, thậm chí là một gánh xiếc trên thuyền. Đi qua ba cửa ải không một sai sót và phải trả giá bằng mạng sống, người lái đò là hiện thân của những người lao động đã đổ biết bao mồ hôi nước mắt, đấu tranh với thiên nhiên để giành lại sự sống.

Đoạn trích như một bức phù điêu sống động của người lái đò – “vàng mười” hiện thực giữa thiên nhiên. Lái đò thuê là nét đẹp của người lao động Tây Bắc. Qua hình tượng nhân vật trong tác phẩm, ta có thể hình dung ở vùng đất thiên nhiên khốc liệt ấy có hàng nghìn con người dũng cảm, nghệ sĩ như người lái đò cuối trời Tây Bắc, họ luôn hiện diện trong thầm lặng, lặng lẽ và chiến đấu trên mọi miền đất nước Việt Nam. Họ cũng là những con người đối mặt với thiên nhiên khốc liệt, lợi dụng sức mạnh của thiên nhiên để mưu sinh, tham gia chống giặc ở phương Nam như Dì Tư béo, Ông già bán rắn, Phường săn cá sấu trong “Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi hay Chín Kiên, M. Sáu trong “Rừng U Minh” của Nguyễn Văn Bổng.

Qua những phân tích trên, người đọc như được mở mang tầm mắt trước tài miêu tả tài tình của nhà văn Nguyễn Tuân. Cảnh vượt thác vốn thường dành cho dân buôn lậu nay đã trở thành cảnh hỗn chiến "vô tiền khoáng hậu".

Mời bạn đọc tham khảo bài viết với nội dung Phân tích cảnh vượt thác trong Người lái đò sông Đà chọn lọc hay nhất. Luật Minh Khuê xin chân thành cảm ơn bạn đã theo dõi.